nha minh noi xu la

Nhà mình nơi xứ lạ (Travellive magazine July 2016 issue)

Còn gì bằng nếu bạn được đến ở trong ngôi nhà mơ ước, tại một thành phố mà bạn chưa từng đặt chân đến, và không tốn phí? Nhân vật Amanda trong phim The Holiday (tựa tiếng Việt: “Nơi tình yêu bắt đầu”) đã thử đổi nhà, và trải nghiệm hạnh phúc này đã giúp cô thay đổi toàn bộ cách nhìn về cuộc sống.

Nội dung phim xoay quanh câu chuyện về hai cô gái độc thân – Amanda, một nhà làm phim sống tại Los Angeles (Mỹ) và Iris – một nữ phóng viên sống trong một ngôi nhà nhỏ nơi làng quê thanh bình nước Anh. Đều thất bại nặng nề trong tình cảm, cả hai quyết định lên đường đến một nơi thật xa để quên đi nỗi phiền muộn. Họ tình cờ gặp nhau qua một trang web đổi nhà, và bắt đầu hành trình khám phá niềm vui sống tích cực thông qua những trải nghiệm gặp gỡ được duyên đời dẫn lối. Không có gì phải bàn cãi, The Holiday chính là bộ phim thành công nhất khi nói về xu hướng đổi nhà (home exchange) khi đi du lịch.

Ngôi nhà trong phim The holidayNgôi nhà thôn dã của Iris tại Anh

Làm sống lại một trào lưu

Xuất hiện từ những năm 1950, đổi nhà là một trong những trào lưu phổ biến được biết đến rộng rãi nhờ mang lại rất nhiều điểm cộng cho người sử dụng. Lợi ích trước hết là bạn sẽ không còn phải tốn tiền thuê phòng khách sạn khi đặt chân đến một vùng đất lạ. Không gian rộng rãi với đầy đủ tiện nghi cũng là một điểm nhấn khiến cho chuyến đi của bạn thêm phần thoải mái. Đặc biệt, nhờ có sự liên lạc trao đổi với chủ nhà từ trước, chuyến đi của bạn cũng sẽ được ảnh hưởng ít nhiều bởi hơi thở của phong cách sống bản địa.

W42GD64HOM

Khi đó, bạn sẽ được sống trong một mái nhà đậm đà hương liệu nấu nướng địa phương, đọc những quyển sách gối đầu giường, nghe những đĩa nhạc yêu thích của một người khác, hay tận hưởng cảm giác thư thả thưởng trà trước một khung cảnh lạ nơi hiên nhà. Đây chắc chắn sẽ là những phút giây mà không một kỳ nghỉ thông thường nào có thể mang đến bạn. Hơn nữa, đổi nhà có thể còn bao gồm cả đổi phương tiện đi lại, trao quyền chăm sóc động vật hay cây cảnh trong nhà – những niềm vui cộng hưởng mà chắc chắn bạn sẽ không có được khi chọn khách sạn làm nhà.

photo-1451934403379-ffeff84932da

Ai đó ước được sống trong ngôi nhà của bạn

Elise, chị dâu tôi, là một nghệ nhân gốm sứ người Pháp. Với tính chất công việc thường xuyên phải ngồi một chỗ để nhào nặn sản phẩm, cảm hứng sáng tạo của chị chủ yếu đến từ những câu chuyện được kể lại trên radio. Đúng vậy, những câu chuyện về cuộc sống của mọi người chính là nguồn cảm hứng lớn nhất của Elise. Có lẽ vì thế mà chị đặc biệt thích tham gia sự kiện “Ngày hội cửa mở” để được ghé thăm những ngôi nhà đẹp, nơi đa số chủ nhân hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo và rộng cửa đón chào, chuyện trò với tất cả mọi người.

Được-bước-vào-một-căn-nhà với người phương Tây vốn tôn thờ sự kín đáo cá nhân thì ra là một dịp hiếm có. Chắc vì vậy mà những trang web đổi nhà vẫn nườm nượp người ra kẻ vào đăng kí mà hầu hết trong số đó là những người có học vấn cao và dành nhiều sự quan tâm cho các đề tài bảo tàng, du lịch thân thiện với môi trường, các hoạt động ngoài trời, di sản văn hóa và thực phẩm sạch.

foodiesfeed.com_ready-for-barbeque

Việc một số trang web sử dụng phương án tích điểm cũng cho phép bạn không đổi nhà trực tiếp với người đến nghỉ tại nhà. Thay vào đó, bạn sẽ tích được số điểm nhất định sau mỗi lần đón khách và có thể sử dụng số điểm sau đó để đổi nhà với một người khác trong cộng đồng. Có hàng ngàn ngôi nhà ở ngoài kia cho bạn tha hồ lựa chọn.

Các website đổi nhà đôi khi còn được phân thành nhóm để dễ dàng đáp ứng nhu cầu của từng nhóm cộng đồng khác nhau. Nếu là dân Pháp ngữ và đang muốn tìm đến những ngôi nhà có chủ là người nói tiếng Pháp, trocmaison là trang dành cho bạn. Trong khi đó, geenee lại là nơi hầu hết các địa chỉ mà bạn có thể đổi nhà đều nằm ở các đô thị thời thượng như London, New York, Paris. Những người quan tâm đến môi trường sẽ tìm đến gti-home-exchange, bởi đây chính là nơi họ sẽ tìm được những căn nhà tận dụng tối đa các nguồn năng lượng thiên nhiên.

photo-1460533893735-45cea2212645

Với những người làm việc trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu, Profswitch sẽ không chỉ mang đến bạn cơ hội nghỉ lại không mất phí mà còn là dịp để nối kết với những người trong ngành. Và HomeChicHome (lovehomeswap) chính là cánh cửa thần kỳ, đưa bạn đi muôn nơi – từ ngôi biệt thự 250 tuổi xứ Toscany (Ý) đến căn hộ phong cách Art deco chỉ cách công viên Tête d’or (Lyon, Pháp) vài ba bước đi bộ. Càng không thể không kể đến ngôi nhà với những ô cửa lớn với góc nhìn xuống những con kênh Amsterdam vốn đã thành ấn tượng đặc trưng khi nhắc đến nhà ở của người Hà Lan.

Và nếu vẫn chưa bị thuyết phục bởi ý tưởng đổi nhà với một người xa lạ, Travellive khuyên bạn hãy tìm xem phim The Holiday để hiểu tại sao đây là trải nghiệm sẽ mang bạn đến một tình yêu mới. Đó là trải nghiệm lạ lẫm nhưng thú vị với một vùng đất, một ngôi nhà, một món ăn hay thậm chí là cả một người bản địa đủ hấp dẫn để khiến bạn quay lại thêm hơn một lần khác nữa.  

1CB98C9DF8

TRANG AMI

House on 11th

Có ai đó đợi tôi trong ngôi nhà của họ (Wanderlust Tips – June 2016 issue)

 

Những người chủ Airbnb không cần phải di chuyển quá xa mà vẫn được du lịch lòng vòng thế giới, thông qua những câu chuyện mà người lữ hành mang tới góp vui cho bữa tiệc “ngủ lại và ăn sáng”. Và những người khách trọ Airbnb? Họ thuộc về muôn nơi.

Airbnb2

Có ai đó đợi tôi trong ngôi nhà của họ?

Là bố đơn thân, Jonathan từng rất chật vật để nuôi dạy 3 đứa trẻ ở Echo Park, Los Angeles. Đã có những tuần liền anh làm việc 80 tiếng đồng hồ để có thể xoay sở nuôi con. Và tất nhiên, với lịch làm việc như thế, Jonathan đã phải gác qua một bên niềm say sưa của bản thân dành cho nghệ thuật gốm sứ.

Cho đến khi bị sa thải, Jonathan quyết định sửa lại một phòng trong nhà, chịu khó ở chật lại để kiếm tiền bằng cách đón khách Airbnb. Những vị khách ghé lại nhà để lại rất nhiều nhận xét tích cực trên tài khoản của Jonathan. Anh cơi nới thêm một phòng nữa cho dịch vụ “bed and breakfast” rồi đón nhiều hơn, nhiều hơn nữa các vị khách ghé nhà… Và Airbnb đã thay đổi cả cuộc đời Jonathan bằng một khoản thu nhập ổn định, thời gian để vun vén cho niềm đam mê gốm sứ và quan trọng là cảm hứng sống của anh đã được vun đầy sau mỗi một lần gặp gỡ.

Còn Shell, một phụ nữ từ New York tuy không nói nhiều về lí lẽ dắt cô đến Airbnb, nhưng lại chia sẻ rất nhiều về cách mà nó đã giúp cô nhìn khác đi về cuộc đời.

ShellShell – Credit photo: Airbnb.com

Với kinh nghiệm đón tiếp hơn 180 khách đến từ mọi miền thế giới, Shell thích ví von căn gác xép nhà mình như cánh cửa thần kỳ, nơi sẽ dẫn dắt những nhân vật với tính cách khác biệt tới với cô. Và chính họ, những khách trọ Airbnb mà cô xem như là các nhân vật văn chương “phải xuất hiện với một lí do nào đó” sẽ giúp Shell làm sáng tỏ những tình tiết mà tiểu thuyết đời cô dần phô bày ra trước mắt người nữ chính.

Jonathan và Shell là hai trong số hơn hai triệu những chủ nhân airbnb rộng cửa chốn ở của mình để chào đón những người khách, giúp họ thực sự được sống như người bản xứ khi đến một vùng đất mới.

“Belong anywhere”

Ra đời tháng 8 năm 2008 tại San Francisco, California, Airbnb hiện là một trong những thương hiệu thành công điển hình của xu hướng “tiêu dùng cộng đồng”. Đây là trang mạng cho phép du khách trả phí để được qua đêm và phục vụ bữa sáng tại nhà riêng của một người bản xứ. Ở nhà riêng, tức là bạn sẽ dùng chung những tiện ích trong nhà và sẻ chia cùng chủ nhà những thói quen đã hình thành nên cuộc sống của họ.

Với hơn 2 triệu loại hình nhà ở tại hơn 34.000 thành phố, trải dài khắp 191 quốc gia, Airbnb hiện là mạng xã hội về chỗ ở có độ phủ sóng rộng nhất thế giới, mở ra cho bạn hằng hà sa số các lựa chọn chỗ ở độc đáo và riêng có. 

Tất cả những trải nghiệm mà bạn luôn mơ ước chưa bao giờ dễ thực hiện đến thế, bởi bạn biết rằng, chỉ vài ba cú click, sẽ có ai đó đợi chờ bạn trong chính ngôi nhà của họ, với những trải nghiệm hoàn toàn tình cờ và riêng có. Lênh đênh trên nhà thuyền ven kênh Amsterdam, làm “công chúa ruộng nho” trong một lâu đài miền nam xứ Pháp, thuê hẳn một villa bên bờ Địa Trung Hải để làm chốn viết lách suốt một tháng trời hay chót vót trên căn hộ cao tầng giữa xô bồ một đô thị lớn đều là những phương án chỗ trọ bạn có thể chọn lựa.

Nếu chỉ một chốn ở thôi thì dễ, nhưng điều tạo nên sự khác biệt giữa Airbnb với homestay hay hotel là Airbnb cho phép bạn sống cùng với chủ nhà một cách đường hoàng, bằng vai phải lứa, như những người bạn ở xa có dịp lại nhà. Airbnb không có chỗ cho mối quan hệ “thượng đế” – người phục vụ, bởi chỉ cần bạn thể hiện kém ở những kỳ trọ trước, chủ nhà kế tiếp sẽ có thể nói không với yêu cầu đặt chỗ. 

Đây là nhà của một ai đó, và họ toàn quyền với việc có cho phép bạn bước vào cuộc sống mình hay không.

Live-There_Tokyo_Elliott_Artist-Loft_20160222_0153_compCredit photo: Airbnb.com

Khi đó, bạn sẽ được nếm thử hũ mứt bà ngoại mới làm được họ cất kỹ trong tủ lạnh, được cho mượn quyển sách gối đầu giường mà có thể gia chủ còn chưa hoàn tất, được nghe một bản nhạc cũ bằng đĩa than quý hiếm hay được ra vườn thu hoạch những quả ngọt, khóm rau nhà trồng.

Tất cả sẻ chia và trải nghiệm đều tình cờ do duyên đời dẫn lối, nên không ai có thể biết được điều gì đang chờ mình. Chắc cũng tại tinh thần này, Airbnb chọn thông điệp mới nhất là “Thuộc về muôn nơi”, để mỗi trái tim lang thang lại có cái cớ để lên đường.

ReadersdigestCredit photo: Readersdigest

TRANG AMI

12027609_1035776933119749_5870444516482317872_n

Quán cà phê ưa thích “chuẩn Elise”

Bài: Trang Ami [Lifestyle –  Travellive magazine – February 2016 issue]

Trong cuốn “Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối” của chủ nhân Nobel văn học 2014, Patrick Modiano, có một câu mà tôi đặc biệt thích: “Paris thì rộng lớn và ta rất dễ lạc dấu một ai đó ở nơi đây”. Lạc dấu một ai đó, nhưng khó có thể quên mất đường về một quán cà phê.

12046732_1035776976453078_875772694117368426_n

Cả Paris trong sổ tay Elise   

Nếu có một nơi gợi nhắc tôi về những ngày đầu tiên đặt chân đến Paris, chắc hẳn đó sẽ là căn hộ mà để vào được đó phải vượt qua cánh cổng kín bưng, dẫn lối ta vào một khoảng sân khuất, nơi đúng hẹn lại vang tiếng vọng về từ chuông nhà thờ Saint-Laurent sát cạnh. Chính tại căn hộ bé nhỏ chật hẹp luôn đậm đặc thứ không khí lành lạnh ấy, tôi đã lần đầu chạm vào Paris thông qua cuốn sổ tay chi chít những bưu thiếp, bài báo, tờ rơi cắt vội hay đôi dòng ghi chép khẩn trương về một chốn hay ho mới nổi.

Elise có cả Paris trong sổ tay của mình. Đó có thể là một cái nhà máy cũ ven kênh đào Saint-Martin được trưng dụng làm khu chợ đồ bành sáng chủ nhật.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA
Canal du Saint-Martin, Credit sketch: GeraldineSadlier

Có khi là hàng tạp hóa chuyên bán hương liệu châu Phi, hoặc đôi lúc lại là buổi khai mạc triển lãm trang sức làm từ kim loại của cô bạn học cũ. Tóm lại, cô gái này sở hữu một kho tàng những chốn vui chơi mua sắm không đụng hàng giữa Paris tưởng đâu đã thừa mứa những chốn hay ho. Le Pavillon des Canaux là một trong những nơi như vậy. Một quán café ưa thích «chuẩn Elise ».

11935102_1027225463974896_8231477905186675050_n

Chái ven kênh

Tôi thích dịch tên quán là chái ven kênh, địa chỉ chính xác ở 39 quai de la Loire, Paris 19ème. Từ bến métro gần nhất, nhớ là phải men theo một vài tiệm cắt tóc, mấy hàng giặt đồ công cộng, thêm vài công trình xây dựng choáng hết cả vỉa hè cho khách bộ hành và mấy sạp trái cây trưng bày thẳng lối. Chưa kể còn phải băng qua một cây cầu bắt vào khu dân cư rồi quẹo phải mới thấy được bức tường graffiti ẩn hiện.

Mặt tiền quán-không-chỉ-cà-phê này có góc nhìn xuống sông nước mênh mang. May sao hôm đó là một buổi chiều mưa bay lất phất nên phải phi vào nhà. Đến đây mà ngồi ngoài trời thì trật lất!

12074898_1035773193120123_6171457075382918727_n

Quán được mở ra với mô típ của một căn nhà, chính xác hơn là một căn nhà tỏ ra như vẫn còn người ở. Gian bếp sáng loáng những chiếc xoong, chất chồng các đồ nghề làm bánh. Mép bàn ăn nơi không gian sinh hoạt còn sót lại ít vụn, như thể tối qua đã có kẻ trở về và đặt lên đó cái bánh mì mua vội ở hiệu bánh đầu phố. Còn cái thanh khoác áo, mũ đằng sau bậu cửa kia ơi, chỉ tối nay thôi, mi sẽ không còn được thảnh thơi, trơ trọi!

12063605_1035769246453851_1862355997162035232_n

Ở trong cái quán-café-nhà-ở ấy, mọi ngóc ngách đều được tận dụng làm chỗ ngồi cho khách. Chẳng hạn, bạn có thể chui vào bồn tắm mà nhâm nhi ly sôcôla nóng hay leo lên chiếc giường trải drap hoa, nơi đặt đầy những búp bê lớn nhỏ mà đọc sách, thưởng trà.

12032234_1035774253120017_452911145729867287_n

Phòng bên, nhóm sinh viên đang lao nhao bàn luận về bài thuyết trình sắp tới, mà nếu tò mò ghé mắt sẽ thấy một đứa đang nghiêng ngả trên giường, đứa ỡm ờ tựa ghế, kẻ mân mê một tựa sách, hệt như họ đang trong một không gian quen thuộc của người bạn nào trong nhóm. Không ai quen nhau, nhưng từ khi bước vào, dám ai cũng thấy mình thuộc về một món đồ, một góc nhìn, một chỗ ngồi trong cái chái ấy.

12046959_1035774139786695_115583035387593817_n

Thật sự, điều làm nên sự thú vị lớn nhất của Le Pavillon des Canaux chính là sức biến đổi không ngừng nghỉ bất chấp mọi không gian và công năng. Nhà tắm với chiếc bồn bạn ngồi uống sôcôla năm nào giờ đã thành không gian hớt tóc. Khoảng sân ngăn cách ngôi nhà với lòng sông là nơi diễn ra những lớp Yoga ngoài trời… Đúng vậy, Le Pavillon des Canaux luôn đưa ra nhiều hơn một lí do cho mọi người tới lui và trở lại. Yêu thích thương hiệu Love & Dress – mời vào phòng ăn, góc cây thông Noel, để thưởng lãm những mẫu thiết kế mới. Muốn theo một khóa học ít người nói tới, Stylist ẩm thực hứa hẹn là cua nhiều thú vị. Thèm sống một đêm trắng như thời làm luận văn cuối khóa – cứ tới chái đi, chắc chắn sẽ có bạn đồng hành…

12196252_1053124754718300_1544333922843712032_n

Và có khi cũng chẳng cần một lý do nào đó sâu xa. Với tôi, ghé tới chái ven kênh là để nhớ lại một thời chạy theo thế giới của Elise những ngày mà với cô, Paris còn là cả thế giới.

—————————–

Thông tin thêm :

+ Trang web chính thức của Le Pavillon des Canaux: www.pavillondescanaux.com

+ Để cập nhật danh sách các quán cà phê nhiều cảm hứng nhất Paris, nhớ ghé qua trang: www.goodcoffeeinparis.com

Don Khone

Don Khone những ngày ngưng kết nối (Travellive số 15.12.2015)

Tưởng chỉ ở mãi bên Tây mới có kiểu du lịch này, nhưng không, ở Lào cũng có những nơi như vậy. Một trong số đó là Don Khone.

Tôi biết đến cụm từ “Du lịch ngưng kết nối” (*) khi theo học lớp Truyền thông du lịch được dẫn dắt bởi vị Giám đốc truyền thông Văn phòng quảng bá du lịch vùng Franche-Comté, Pháp. Với đặc điểm là vùng có mật độ cây xanh rậm rạp nhất nước Pháp, chẳng có gì ngạc nhiên khi nơi đây được xem là một trong những vùng khởi nguyên và lan tỏa xu hướng mới mẻ này.

Khi thế giới ảo tạm ngưng kết nối

Trong số những người quan tâm đến hình thức du lịch này, phổ biến nhất là các thương gia, rộng hơn là những người phải chịu nhiều áp lực trong công việc – những người lúc nào cũng kè kè bên mình những thiết bị công nghệ nối họ với trăm bề tất bật nơi công sở.

Khi đến nơi cần đến, bạn sẽ được giữ hộ hoặc chủ động tắt các thiết bị thu phát sóng Internet và sóng điện thoại để có thể tận hưởng được cảnh sắc thiên nhiên nơi đó. Lý tưởng nhất cho các tuyến du lịch kiểu này thường là trong rừng sâu, nơi mọi sinh hoạt được diễn ra trong ngôi nhà gỗ vắt vẻo trên cây.

img_55221
Credit photo:  Asiaoffthegrid

 

Tưởng chỉ ở mãi bên Tây mới có kiểu du lịch này, nhưng không, ở Lào cũng có những nơi như vậy. Nổi nhất trong số đó có “Gibbon experience”, một tour cho phép du khách nghỉ lại trong những ngôi nhà cây, nơi có góc nhìn toàn cảnh xuống rừng quốc gia Bokeo, cho phép bạn ngủ dậy trong tiếng vượn kêu và “bay” từ nhà này sang nhà khác bằng hệ thống dây đu (zipline) chằng chịt. Đây cũng chính là món quà mà chúng tôi tặng cho cô bạn đồng nghiệp Servane trước khi cô về Pháp. Với một kẻ mê đắm với văn hóa bản địa và đã từng đặt chân đến cả những chốn thâm sâu bí hiểm nhất xứ Lào, “Gibbon experience” vẫn là trải nghiệm độc đáo nhất của Servane. Rừng quốc gia Bokeo là nơi cô được thỏa thích hiện thực hóa giấc mơ Tarzane tuổi nhỏ của mình.

Còn tôi, chưa đủ dũng khí để đối diện với thử thách zipline, tôi đã chọn Si Phan Don cho hành trình “ngưng kết nối”.

DSC03909

Sống lười nơi vạn đảo

Si Phan Don có nghĩa là “4.000 đảo” mà trong đó nổi bật nhất là Don Det và Don Khone. Với hằng hà sa số các dịch vụ vẫy chào trên mạng internet, Don Det hứa hẹn sẽ là trạm dừng chân của những người thích thử thách trên hành trình dọc ngang Đông Nam Á. Để tránh họ, tôi và Julie chọn Don Khone, cũng là đảo cuối cùng ở phía nam đất Lào, giáp ranh biên giới Campuchia.

Sau bao nhiêu vùng đất tôi có dịp đặt chân qua trong một năm làm việc ở xứ triệu voi, đảo Don Khone là nơi mang đến cảm giác thân thuộc nhất của một xứ Lào đã từng gặp trong sách vở. Phong cảnh chân chất, người dân hiền hòa, và không gian thì tĩnh lặng tuyệt đối.

DSC03894

Trên các diễn đàn, khách du lịch bốn phương chỉ vẽ nhau một hoạt động hứa hẹn lí thú khi tới Don Khone, đó là “hoạt động không làm gì”! Những gì bạn nên làm ở đây đơn giản là thuê một chiếc xe đạp rồi cứ thế chầm chậm những vòng xe trên con đường rợp bóng dừa, giữa những hàng rào đậm màu râm bụt, ngã lưng trên võng đánh một giấc trưa hay say sưa cùng quyển tiểu thuyết đã bao năm dở dang vì đọc mãi chưa tới hồi kết thúc. Thế thôi. Và Julie bảo Don Khone khiến cô thấy nhớ Hội An thật nhiều.

DSC04142

Cũng những hàng dừa nghiêng nghiêng xõa bóng, con sông quanh co uốn lượn trước mỗi mái nhà tranh và tầm nhìn ngắt xanh một màu lúa, nhưng với tôi, có một cái khác rất lớn giữa hai chốn này. Trong khi Hội An có sự giao thoa giữa nhiều nền văn hóa, Don Khone lại giản dị, đơn sơ như chưa từng biết tới thế giới bên ngoài. Thật sự, nếu không có những đầu máy xe lửa, vài chái nhà kiểu đầu thế kỷ và cây cầu Pháp cũ nối liền Don Det và Don Khone, có lẽ chẳng ai tin rằng nơi đây cũng từng chịu đựng sự xáo trộn của những tháng ngày Đông Dương thuộc địa.

DSC04020

Đảo đẹp nhất vào những buổi hoàng hôn. Không chỉ riêng tôi mà dường như tất cả những trái tim ngoại quốc đều bị «đặc sản» ráng chiều làm cho mê đắm. Trong mùi thơm của ly cocktail pha rượu gạo (cocktail Lao Lao), ai nấy neo hồn mình nơi chiếc thuyền câu, hay xa hơn là phóng tầm mắt sang bên kia dòng Mekong, nơi những người phụ nữ bắt đầu thu dọn chăn chiếu phơi ngoài rào, lên đèn, khép lại một ngày nữa đi qua.

DSC03942

Người Lào đặc biệt dễ thương. Sách hướng dẫn nói rằng, nếu một ngày nào đó tình cờ lạc chân vào một chòi canh trên rẫy lạ, hãy cứ sẵn gạo, mắm muối, xoong nồi mà nấu nướng, đánh chén ngon lành. Thậm chí, bạn cũng có thể đào khoai, khai sắn mang về. Chỉ cần sau đó tìm cách báo lại với người canh rẫy, bạn sẽ khiến họ thấy vui mừng vì tự nhiên làm được một việc phúc đức.

DSC04012

Don Khone thơ mộng đến mức thực tế mà như mộng mị, và dẫu ban đầu có chủ ý “ngưng kết nối” hay không, thì khi đến đây, mọi âu lo của đời sống dường như chẳng còn đất diễn. Chỉ còn lại ta với những khoảnh khắc của sự nhàn nhã.

DSC04072

Nghe Buena Vista Social Club nơi tận cùng thế giới

Điều khiến tôi thích nhất ở Don Khone đó là bạn có vẻ như đang ở nơi tận cùng thế giới, nhưng thực tế lại khác hẳn. Chưa có không gian nào thích hợp hơn để nghe Buena Vista Social Club như ở đây. Cứ mỗi tối, tôi và Julie dù có dùng bữa ở đâu cũng lại kết thúc một ngày rong ruổi bằng ly cocktail ở nhà hàng Sala Phae. Ở đây có thứ âm nhạc hàng đêm nhảy múa.

Buena Vista Social Club không phải là một ban nhạc. Đó là tên một câu lạc bộ khiêu vũ và âm nhạc rất nổi vào những năm 40, ở giữa lòng thủ đô Havana, Cuba. Sau 50 năm ngủ quên, câu lạc bộ này chỉ được thức tỉnh bởi cuộc gặp gỡ tình cờ với một tay guitar nổi tiếng người Mỹ, Ry Cooder.

Vẻ đẹp của âm nhạc Buena Vista Social gây ấn tượng vì nó chân chất và có tính biểu tượng. Và Don Khone chạm được tâm hồn tôi là vì nó vẫn tĩnh lặng với vẻ đẹp thanh cảnh rất riêng. Đó là vùng đất đã đã ôm tôi vào lòng, cho tôi nhìn lại cả tuổi thơ xưa cũ, soi rõ tâm hồn ở thì hiện tại và thúc tôi nạp đầy những năng lượng cần thiết.

Và tôi đã sống ở Don Khone những tháng ngày thong thả nhất bởi tôi biết rằng, chỉ sau một chuyến thuyền, vài ba cuốc xe, tôi sẽ lại cập bến bận rộn. Thế giới sẽ trở lại thời điểm cuối năm 2015, và tổ ấm của tôi đang loạn lên sau những ngày không được điều khiển, dù là từ xa.

Bài: TRANG AMI, ẢNH: JULIE REYNIER & NICOLAS WEYDERT 

Thông tin thêm:

+ (*) Du lịch ngưng kết nối: dịch từ tiếng Anh là «unplugged travel» hay «voyage déconnecté» trong tiếng Pháp.

+ Hành trình: Bạn có thể bắt chuyến bay của Vietnam Airlines từ Hà Nội hoặc Thành phố Hồ Chí Minh đến Vientian, sau đó bắt xe buýt đêm từ Vientian đến Paksé (khoảng 10 tiếng). Từ đây bắt tiếp xe buýt đến Ban Nakasang (2 tiếng rưỡi), và sau đó tại bến tàu của Ban Nakasang bắt thuyền đến thẳng đảo Don Khone.

+ Hoạt động: Một trong những hoạt động không thể bỏ qua khi đến Don Khone là đi ngắm cá heo nước ngọt Irrawaddy, một trong những loại cá heo có nguy cơ tuyệt chủng có xuất xứ từ dòng sông cùng tên ở Myanmar, và chỉ xuất hiện ở 3 nơi trên thế giới. Nếu muốn được một lần nhìn thấy dòng Mekong giận dữ, nhớ ghé thác Khone (Khone Phapheng), nơi được xem là thác nước lớn nhất Đông Nam Á.

View of Besancon city - France, Doubs

Besançon không ngủ Đông (Travellive số 15.11.2015)

Cái tên Besançon mang đến cảm giác xa lạ và lạnh lẽo với cả dân Pháp. Nhưng với kẻ đã từng xem đây là nhà như tôi, thành phố này lưu dấu những ký ức đẹp khó phai, dẫu từng phải trải qua kiểu tiết trời khắc nghiệt nhất trong đời tại chính nơi này.

Nơi cái lạnh đã thành “đặc sản”

Trong lớp học về truyền thông địa phương, vị giám đốc truyền thông của Besançon khi đó cho rằng mỗi nơi chốn đều có thể được gọi tên bằng một từ vựng. Ông đã đưa ví dụ cụm từ “nước mắm” khi nhắc đến Việt Nam. Còn với Besançon, rất nhiều người đồng thanh nói “lạnh”!

Ngày 17 tháng 1 năm 1985, dân làng Mouth (cùng nằm trong tỉnh Doubs với Besancon) từng phải sống qua cái lạnh âm 41,2 độ C. Con số kỷ lục này đã mang lại cho ngôi làng biệt danh “vùng tiểu Siberia” của nước Pháp. Besançon thì không lạnh đến mức ấy, nhưng đã có những mùa Đông tôi thấy mình bước đi với đầu gối chạm tuyết vì xe buýt cũng chịu thua. Ở đây, những ngày âm độ được chờ mong hơn là những ngày có tuyết, bởi tuyết rơi trong khoảng nhiệt độ zero, còn nếu âm thì không rơi nổi.

View of Besancon city - France, Doubs
Besancon toàn cảnh

Càng sống qua những ngày giá lạnh ở đây, tôi càng yêu hơn “những ngày cả thành phố cùng nhau giặt giũ và phơi phóng”. Đó là khi tất cả những khoảng xanh trong và ngoài thành phố được lấp đầy bằng những cuộc picnic chóng vội, tranh thủ. Tất cả những nét đẹp của mẹ thiên nhiên đều được hội tụ nơi này. Đó là vẻ đẹp pha trộn giữa cao nguyên, thác nước, sông ngòi và rừng. Rừng ở khắp mọi nơi, những khu rừng sâu và bí ẩn. Có đến hai dãy núi danh tiếng giáp ranh hoặc nằm trong vùng lãnh thổ Franche-Comté, Jura và Vosges. Vào mùa Đông, những dãy núi phủ tuyết mang lại nguồn lợi rất lớn cho người dân trong vùng. Đến hẹn lại lên, dân trượt tuyết và những kẻ viễn du bộ hành (randonneur) năm nào cũng đổ về đây nghỉ dưỡng và tham gia những trò thể thao mùa Đông. Trong số đó có cả những khách du lịch từ Áo, Hà Lan hay những nước Trung Âu cách Besançon cả chục tiếng lái xe.

Chưa hết, những cánh rừng trong dãy Jura còn mang lại một nguồn lợi rất lớn cho nền công nghiệp sản xuất đồ chơi làm bằng gỗ – một ngành công nghiệp nổi bật kéo dài từ thế kỷ 13 đến tận bây giờ. Vì lẽ này, khu chợ Noël hàng năm luôn dành vị trí trang trọng nhất để triển lãm ngôi nhà gỗ của ông già Tuyết. Tại đó, bạn sẽ được gặp những nhân vật hoạt hình và các vật dụng được chế tác hoàn toàn bằng gỗ. Và Noël cũng chính là khoảng thời gian tôi thích nhất trong suốt những tháng ngày cư ngụ phố núi miền Đông.

Thành phố của vẻ đẹp ẩn mình

Tôi tự tin đã đi bộ qua tất cả những con phố lớn nhỏ trong khu trung tâm, và chẳng cần nhìn bản đồ cũng có thể chỉ được những con hẻm tắt để đến đích nhanh nhất. Nhưng đây chỉ là một sự thông thuộc mang tính bề nổi. Để khám phá vẻ đẹp của kiến trúc địa phương, trước hết sẽ phải ngắm nhìn mặt tiền của những tòa nhà mà hầu hết đều được xây từ đá chailluz. Được khai thác từ khu rừng cùng tên, đá chailluz có hai màu xanh da trời lẫn xám và có đặc tính thú vị là liên tục đổi màu theo thời tiết và các thời khắc trong ngày. Tuy nhiên, đó chỉ là lớp lang ngoài cùng của vẻ đẹp Besançon.

Hospital Saint-Jacques of Besancon - France, Doubs
Bệnh viện Saint-Jacques, Besancon

Sự cuốn hút nằm trong những khoảng sân khuất, bên kia cổng lớn, nơi mà rất nhiều khả năng bạn sẽ được nhìn ngắm những chiếc cầu thang lộ thiên kiều diễm, uyển chuyển tựa lưng vào những bức tường rợp lá, trổ hoa. Ở khu Battant có một khoảng sân như vậy, đó là khoảng sân của Hôtel de Champagney ngụ ở số 37 rue Battant. Nếu không được chỉ dẫn từ trước, có lẽ bạn sẽ vô tình bỏ qua tòa nhà lịch sử này. Có quá nhiều thứ để nói về nó. Đầu tiên là những chiếc máng xối hình mặt thú có từ thời thế kỉ 16 vẫn ở đó trấn giữ khoảng tường mặt tiền. Không nhiều những tòa nhà ở Pháp còn giữ được những chiếc máng xối này, mà nổi bật nhất phải kể đến Nhà Thờ Đức Bà Paris. Đừng dừng chân, hãy bước tiếp vào con hẻm tối nằm sát bên cửa hàng bán nhạc cụ. Chào mừng bạn đã đến được với chiếc cầu thang đôi truyền thống nổi tiếng và cổ nhất thành phố!

Đối diện với chiếc cầu thang là một nhà hàng cùng tên với khách sạn. Trông bé nhỏ nhưng sẽ là thiếu sót lớn nếu bạn không đẩy cửa bước vào. Thực đơn của nhà hàng được thay đổi theo mùa, tùy thuộc vào sản phẩm tươi “của vùng trồng được” và những loại rượu đã được tuyển chọn kĩ càng bởi những người sành sỏi. Trịnh trọng và ấm cúng thuộc loại nhất nhì thành phố, nhà hàng là nơi lý tưởng cho những bữa ăn nói chuyện đại sự.

Để điểm thêm một dấu ấn đặc biệt cho cuộc hò hẹn ở Le Champagney, hãy quẹo phải khi từ nhà hàng trở ra. Con đường đá sỏi có vẻ bí ẩn này sẽ dẫn bạn đến một chiếc cầu thang đá lộ thiên và bức tường bên của trường sư phạm (IFMT). Đừng e sợ, cổng trường rộng mở cho cả những lữ khách không phải là sinh viên đang theo học tại đây. Chỉ một vài bước chân nữa thôi, bạn sẽ đến được với Esplanade de Griffon, nơi có góc nhìn đẹp nhất xuống những mái nhà phủ tuyết.

Nhưng nếu bạn thích trèo xuống hơn là leo lên thì vẫn còn một nơi khác mà tôi sẽ không thể chịu được nếu không nhắc đến. Đó là nhà hàng “Au vieux comtois”, một nhà hàng mà mãi đến năm thứ 3 Đại học tôi mới biết đến sau một lần được người bạn địa phương giới thiệu. Quá khó để phát hiện ra nhà hàng lọt thỏm giữa siêu thị Casino và cửa hàng đồ nội thất Style trên phố Grand-rue này, dẫu cho đây có là con đường “xương sống” đông người qua lại nhất khu phố cổ. Nhà hàng này đắt khách đến nỗi bạn sẽ bị từ chối nếu không chịu đặt bàn trước, kể cả đó là một buổi trưa trong tuần. Hầm rượu là khu vực được ưa thích nhất và tất nhiên là bạn sẽ phải chui xuống để đến được đây. Và mặc kệ ngoài kia có gió mưa bão bùng hay nắng nóng tưng bừng, đây chính là thiên đường hạ giới của riêng tôi với mùi thơm của pho mát cancoillotte, lát thịt Franche-Comté thơm nức mũi ăn kèm với nấm tổ ong hay miếng xúc xích morteau óng vàng nổi tiếng. Tôi muốn nhắc đến chiến dịch truyền thông làm mưa làm gió trong các bến đợi métro giữa thủ đô năm nào. Tấm áp phích chụp thanh xúc xích hấp dẫn, đính kèm thêm dòng slogan: “Offrez-vous 20cm de pur bonheur” (Hãy tự tặng mình 20cm thuần hạnh phúc) vậy mà làm dậy sóng dư luận !

Những trái tim không ngủ Đông

Sống ở một nơi mà tháng 4 vẫn hiếm hoi những ngày nắng, bạn sẽ tự nhiên thấy lạnh lẽo trở thành quen thuộc. Những hôm tối trời, hẹn mấy người bạn ra quán lẩu pho mát, nhấp môi vài ly rượu và chuyện gẫu cùng ông chủ nhà hàng về mùa nho làm ra nó thật là một kịch bản hay. Năm nào cũng diễn lại mà không thấy chán!

French pub, Besancon
Quán Pub de l’Etoile trên phố lớn, Grand Rue, vào một đêm tháng 3 năm 2012.

Trời càng làm khó, dân Besançon càng chân tình với nhau. Có lần, tôi cùng người yêu đã được một người phụ nữ đề nghị chở về nhà hộ vì chúng tôi lỡ chuyến buýt khuya. Khi đó bà ta chuẩn bị về đến nhà ở ngay cạnh bến xe, ngoài trời rất lạnh và chúng tôi thì sống ở tận trong trung tâm thành phố. Nhưng cuối cùng chuyến xe đó vẫn diễn ra, đơn giản vì: “Tôi không thể chịu nổi khi nhìn thấy anh chị đứng chờ buýt giữa đêm khuya lạnh lẽo như thế này”.

Sau những mùa đông ở Besançon, tôi nhận ra chẳng có bất cứ thành phố nào trên đời có thể khiến ta thất vọng nếu đôi chân được trang bị ủng tốt, đôi bàn tay được ủ ấm bởi người thương, miệng biết bắt chuyện với dân bản xứ và quan trọng là trái tim đủ cởi mở để đón nhận những trải nghiệm mùa Đông xứ khác.

TRANG AMI

Thông tin thêm:

 

  • Besançon là thành phố thủ phủ của tỉnh Doubs, vùng Franche-Comté, nằm ở miền Đông nước Pháp
  • Từ Việt Nam, bạn có thể bắt chuyến bay thẳng của Vietnam Airlines đến Paris, sau đó di chuyển từ thủ đô về Besançon bằng tàu TGV. Một chuyến TGV đi thẳng từ Paris Gare de Lyon về Besançon-Franche-Comté TGV kéo dài 2 tiếng 5 phút.
  • Ba điểm tham quan không thể bỏ qua của thành phố là Citadelle (tòa thành do thiên tài quân sự Vauban xây dựng vào thế kỉ 17, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới), Musée du temps – Bảo tàng thời gian (nơi trưng bày những sản phẩm một thời oanh liệt của nền công nghiệp đồng hồ ở địa phương) và ngôi nhà số 140 phố Grande-rue, nơi đại danh hào Victor Hugo ra đời.
  • Tất cả những thông tin liên quan đến các trạm trượt tuyết ở Franche-Comté có thể tìm thấy ở trang franche-comte.org, mục Découvrir > Montages du Jura > Hiver et ski dans le massif du Jura.

 

 

DSC02739

Tapik, chiêu đãi kiểu thiên đường (Travellive magazine, april 2015 issue)

Bài và ảnh: Trang Ami

>> Online Vietnamese/English version

Ở Tapik có tất cả mọi thứ để lấp đầy cuộc sống. Nắng vàng, biển xanh, cát trắng, hàng dừa nghiêng nghiêng xõa bóng, những người hàng xóm vẫy tay chào đón, và hải sản ngon!

Nói không với “thiên đường đại chúng”

Chuyến đi này vận hành theo một chu trình ngược. Chỉ khi đã cầm hai cặp vé đến Manila trong tay, tôi và bạn đồng hành mới bắt đầu tìm kiếm một điểm đến. Boracay là phương án được bạn tôi đề xuất, cũng là chốn được phần đông khách du lịch lựa chọn. Cái suy nghĩ sẽ có một album ảnh từa tựa như những album của người khác khiến tôi quyết định “mình phải đi một chỗ mới!”

Ở cái đất nước có 7107 hòn đảo này phải có một chốn nào đẹp và độc chứ. Và Tapik chính là đích đến được tôi cho vào tầm ngắm sau cả một hành trình zoom vào rồi lại zoom ra trên bản đồ đảo Palawan, hòn đảo rộng lớn nhất quốc gia này.

Để đến được bãi biển Tapik, chúng tôi phải bắt máy bay từ Manila đến thành phố thủ phủ Puerto Princesa, sau đó ngồi xe du lịch mất thêm 6 tiếng đến làng El Nido. Chưa hết, từ đó còn phải bắt thêm một chuyến xe chừng 2 tiếng đồng hồ vòng vèo đường núi nữa.

DSC02713

Vì biết xe sẽ đến El Nido lúc sẩm tối, chúng tôi quyết định ngủ lại làng một đêm thay vì đi thẳng đến Tapik. Tuy mất thêm thời gian, nhưng bù lại sẽ được ngắm ráng chiều trên bãi biển Corong Corong – “nơi đẹp nhất để ngắm hoàng hôn ở Palawan” theo cẩm nang Petit Futé, được dạo thăm buổi họp chợ sáng thứ 7 và trải qua đêm “tập huấn” ngủ trong nhà tranh, trước khi lên đường tới biển Tapik.

Có 3 phương án di chuyển từ El Nido đến Tapik. Thuê xe máy tự lái, liên hệ nhà nghỉ để được đón bằng xe riêng và bắt xe Jeepney cùng người dân địa phương. Bọn tôi chọn phương án cuối cùng, cũng là phương án tiết kiệm nhất – đồng nghĩa với trải nghiệm ngồi lên một cuốc xe chất gà chất vịt, thậm chí là đầy nhóc những thanh niên địa phương chênh vênh trên nóc.

Quãng đường từ El Nido đến ngôi làng Sibaltan (ngôi làng ngay cạnh bãi biển Tapik) chỉ chừng 35 km, nhưng vì đường sá còn nhiều chỗ chưa được rải nhựa, lại thêm việc dừng xe đón/trả khách liên tục nên xe chạy đến 2 giờ mới tới.

Ngồi với người bản xứ, được nghe họ kể về cuộc hành trình hàng trăm km đưa con đi khám bệnh, được nhìn ngắm những vận chuyển lên xuống từ trên nóc xe, được hỏi han về cuộc sống của người dân làng, được kể về chính mình với những người hàng xóm, thấy họ cởi lòng với mình, thấy mình gần gũi với cuộc sống nơi này như thể đây là một chuyến về làng của người con viễn xứ.

DSC02821

Bắt chuyện với một người phụ nữ đã từng rời quê hương đi làm giúp việc ở Ả Rập Saudi trong suốt 6 năm trời, hỏi tại sao chị trở về khi ai cũng ước mơ ra đi lập nghiệp, chị đáp: “Tôi đã lo được cho những người em của mình, đã xong nhiệm vụ nên quyết định quay về”.

Xe về tới làng Sibaltan, Randy, quản lý khu nghỉ dưỡng Tapik beach đã ở đó chờ sẵn. Sau khi cùng nhau đi bộ khoảng 800m dưới hàng hàng lớp lớp những rặng dừa xanh, cuối cùng chúng tôi cũng đến được thiên đường Tapik Beach Park guesthouse. Tuy nơi này chỉ mới chính thức mở cửa đón khách từ cuối năm 2013, nhưng chúng tôi không phải là người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến. Trước đấy một tháng, một cô gái tên Thảo người Sài Gòn đã tiếm mất “danh hiệu” này.

DSC02984

Tapik, thiết đãi kiểu thiên đường

Vì nằm ở hướng đông nên “món ngon” không thể bỏ qua khi đến đây là khung cảnh mặt trời mọc. Chưa hết, mỗi đêm Randy còn hào phóng đãi khách một khóm lửa trại bên bờ biển để chờ đón trăng lên. Giữa những cuộc chuyện trò bằng nhiều thứ tiếng, giữa những nhỏ to với người bạn đồng hành, giữa mùi thơm của món ngon trong bếp, giữa hương thanh thanh của những vị rượu quen quen, thấy những giấc mơ tuổi trẻ chơi vơi giữa trời, trong đó có ước mơ được ngắm trăng trên một bãi biển vắng người, như ở đây, giờ này. Ô hay, giữa cái nơi heo hút này, có một ước mơ của mình đã được thắp sáng.

Theo tờ rơi du lịch của chính phủ Philippines, đây là đất nước mà bất cứ người dân nào cũng chỉ cách biển khoảng 2 giờ di chuyển và cuộc sống dưới nước cũng muôn màu như trên cạn vậy. Vì lẽ này, đã tới Philippines thì phải đi lặn biển và dong thuyền ra khơi.DSC02768

Tapik beach park guesthouse đề xuất một tour dạo biển kéo dài từ 10 giờ sáng tới 4 giờ chiều với giá 1200 peso, trải qua 4 địa điểm là Binulbulon, Malabuso, Maosouon và Mazonon. Ở hai địa điểm đầu tiên, chúng tôi được thỏa sức lặn ngắm san hô giữa dòng nước trong veo thấy đáy. Chưa bao giờ những chú rùa biển, những con cá đủ màu và thậm chí là cả những chú tiểu cá mập (baby shark) lại lượn lờ ở một cự li gần đến thế. Sau đó, Randy bí mật hướng thuyền về một hòn đảo mà bãi cát chưa hề in dấu chân ai qua (ít nhất là vào ngày hôm đó). Quá khó để có thể tả lại khung cảnh thần tiên ấy. Đối với bạn đồng hành đến từ Hà Nội của tôi, đây thực sự là lần đầu tiên cô được bước trên một bãi biển không người.

Đã lỡ so nơi này với thiên đường, càng không thể bỏ qua khoản “yến tiệc”. Đêm đầu tiên tới Tapik, Randy đề xuất bọn tôi món cua hấp với nước sốt sữa dừa. Phần mỗi người là hai con cua to cỡ hai bàn tay người chụm lại, giá rẻ đến bất ngờ kể cả với một kẻ đến từ Đà Nẵng như tôi – 200.000vnd.

Ở Philippines, phổ biến nhất có món “adobo” thường được làm từ thịt gà hoặc thịt lợn, ướp tẩm với tỏi và nướng tương trong nhiều giờ liền, trước khi được hầm với giấm, lá nguyệt quế, muối và hạt tiêu đen. Món “Tapik adobo rice” thì lại được biến tấu thêm vào ít sữa dừa bùi bùi, thơm ngậy.

DSC02951

Trong suốt thời gian ở lại đây, tôi bị mê hoặc bởi tất cả những món có chữ “sweet” đi liền đằng trước. Từ “tôm ngọt” tới “mực ngọt”, cứ gọi ra là sẽ có một suất cơm ăn kèm với món hải sản ngọt ngọt mằn mặn, thơm thơm mùi hành. Thỉnh thoảng lại nghe ra một vị chua mỏng mỏng, có lẽ của “kalamansi”, loại chanh nhỏ vẫn thường góp vị trong các món ngon xứ này. Để giải nhiệt, một trái dừa non (“buko”) thu hoạch trực tiếp từ mấy rặng dừa ngoài biển là lựa chọn số một. Thỉnh thoảng giữa hè phố Manila bạn sẽ bắt gặp cảnh những người đi làm uống buko sớm, bất chấp bao nhiêu ánh nhìn kỳ lạ của những người khách du lịch nước ngoài, trong đó có tôi.

Chỉ có một Bo-Bog trên đời!

Từ Tapik phóng tầm nhìn ra xa sẽ thấy một cái đảo hoang, gọi là Bo-Bog. Trên hòn đảo nhỏ xíu và biệt lập này chỉ còn trơ lại một khung tường cũ, trước vốn là căn nhà làm nơi canh gác. Vì hoang sơ lại nằm chơ vơ giữa biển nên ai đến tắm cũng sẽ có cảm giác mình như chúa đảo vậy. Cùng với anh chàng phục vụ tại nhà nghỉ, bọn tôi chèo thuyền kayak ra đến đây vào đúng lúc giữa trưa, trời xanh biển xanh điệp vào nhau tạo thành một khung cảnh an yên hiếm có.

DSC02864

Gần tới lúc rời đi, anh chàng hỏi tôi vậy là đã hết kỳ nghỉ hè rồi sao, vừa hỏi han vừa tỏ ra tiếc nuối thay. Đáp lại, tôi mở cho anh chàng xem video quay cảnh đường phố Đà Nẵng (bụng bảo dạ hẳn xem xong anh ta sẽ ố á khen thành phố cô đẹp quá, tôi ước mơ được tới đó quá), vậy mà anh chàng chỉ nở một nụ cười khoái trá “ở chỗ đó làm gì có Bo-Bog nữa đâu, chắc chán lắm nhỉ”. Trời ơi, trong khi cái làng Sibaltan của anh ta thì internet chập chờn, điện chỉ xuất hiện từ 5pm tới 10pm, nước cứ lâu lâu hỏng một vài tiếng, trò tiêu khiển mỗi chiều của đám trẻ con là dắt nhau ra cào nghêu, bắt ốc còn thanh niên có mỗi một sân bóng rổ và một bàn bida cũ mèm!

DSC02829

Thế đấy, trong mắt anh chàng, làng quê của anh vẫn là nhất, hoang đảo Bo-Bog còn tuyệt vời hơn cả thành phố đáng sống triệu triệu người ngưỡng mộ và mơ được đến sống của tôi. Và chân lí “thiên đường Tapik” của tôi chính là vay mượn từ kiểu tư duy của anh chàng. Cho đến khi tôi chưa tìm được một bãi biển nào xanh hơn, thức ăn ngon hơn, người dân tử tế hơn và cát mịn hơn, thì Tapik cứ “tạm” là thiên đường vậy!

Tac gia

Thông tin thêm

  • Tapik Beach Park thuộc Barangay Sibaltan, một ngôi làng nằm ở phía Đông của El Nido, tỉnh Palawan
  • Những hãng hàng không có đường bay Manila – Puerto Princesa là CebuPacific, PAL Express, AirAsia
  • Từ Manila, bạn có thể bắt máy bay đến thẳng El Nido. Phương án tiết kiệm hơn đó là bắt máy bay đến Puerto Princesa, sau đó đi xe bus (6 tiếng) đến làng El Nido rồi liên hệ Tapik Beach Park để được đón bằng xe riêng
  • Từ tháng 12 đến tháng 5 là khoảng thời gian lý tưởng nhất để du lịch Phillipines với tiết trời mát mẻ, khô ráo
1

Gorée, tự do giữa đảo nô lệ (Travellive, số ra 15/3/2015)

Bài: Trang Ami – Ảnh: Maggy Leoncelli

4

Gorée của kiếp bi thương nô lệ giờ đã được thay thế bằng Gorée của những trái tim nghệ sĩ. Còn đối với tôi, Gorée sẽ là kỷ niệm mãi nhớ, về một buổi ngắm hoàng hôn lãng mạn từ khoảng sân hoang tàn nơi góc đảo.

Lời mời ở Le Jovial

Buổi tối mới đến Dakar, tôi tình cờ gặp anh chàng địa phương ở quán bar Anh chàng vui vẻ (Le Jovial). Cồn vào, lời ra, anh chàng làm nghề lễ tân khách sạn đưa số điện thoại và hẹn sẽ dắt tôi đến đảo Gorée vào một ngày nào đó do chính tôi chọn lịch. “Hôm nào em tập huấn xong sớm thì chỉ cần gọi anh một tiếng, ta hẹn nhau nơi bến cảng rồi đi luôn”. Trước khi rời quán, anh chàng còn cố gào vào tai tôi: “Dù anh chẳng quen thân em nhưng nếu biết em đến Dakar mà không đi Gorée thì anh bứt rứt lắm. Em không đi được thì anh tiếc dùm em đấy!”

Để chàng ta khỏi tiếc, tôi quyết định đến thăm Gorée. Nhưng là với một anh chàng khác.

Không lối về

Gorée là một hòn đảo nằm quay mặt về hướng đối diện thủ đô Dakar của Senegal. Tuy chỉ cách thủ phủ chừng 2 km nhưng hòn đảo lại mang trong mình một thân phận lịch sử hoàn toàn riêng biệt. Trong khoảng giữa thế kỉ 15 đến 19, đây là điểm giao dịch nô lệ lớn nhất khu vực châu Phi. Suốt 400 năm ấy, chẳng ai muốn đến Gorée vì điều này đồng nghĩa với việc họ sẽ phải khoác lên mình kiếp nô lệ, chẳng biết ngày mai được đưa đi đâu và cũng không thể tự định đoạt được số phận chính mình. Ước tính, có khoảng 20 triệu đàn ông, phụ nữ và trẻ em châu Phi đã bị mang đến Gorée để bán cho những người chiếm hữu, trước khi bị chuyển lên tàu, vượt Đại Tây Dương sang Bắc Mỹ, Nam Mỹ và các nước vùng Caribe.

Photo by Maggy Leoncelli (31)

Loanh quanh trên đảo, đến đâu cũng có thể bắt gặp những công trình ít nhiều gắn bó với những tháng ngày đen tối của lịch sử nhân loại: đồn lũy, xà lim, đường phố, quảng trường, nhưng sống động nhất vẫn là House of slaves (Ngôi nhà của những người nô lệ).

Ngôi nhà được xây dựng vào năm 1776 bởi người Hà Lan này cũng chính là ngôi nhà nô lệ cuối cùng tồn tại ở Gorée. Đến thăm bảo tàng, bạn sẽ được chứng kiến những chiếc xà lim với diện tích vỏn vẹn 2.60 x 2.60m từng là nơi giam giữ từ 15 đến 20 người nô lệ.

Tất cả những ngôi nhà nơi khu vực rìa đảo, thậm chí là cả chính điện của nhà thờ hiện nay, đều đã từng là những nhà giam cầm. Các cô gái trẻ được giam giữ tách biệt với phụ nữ lớn tuổi vì họ có giá hơn. Thậm chí còn có cả một căn xà lim tách biệt dành cho những nô lệ tạm thời không đủ điều kiện, mà cụ thể là những nam nô lệ có mức cân nặng tối thiểu dưới 60kg. Ở đó, họ sẽ được “vỗ béo” bằng món đậu niebe để sớm tăng trọng lượng cơ thể.

Đến thăm Ngôi nhà của những người nô lệ, bạn sẽ nhìn thấy một hành lang hẹp và dốc còn in dòng chữ “Cánh cửa không có đường trở lại”. Một khi bước qua khỏi cánh cửa này để dẫn ra khu vực đậu tàu, những người nô lệ sẽ không bao giờ có thể quay trở lại đất mẹ nữa. Cũng tại đây, rất nhiều trong số họ đã nhảy xuống biển mong tìm cách trốn thoát để rồi thấy mình chẳng thể đi quá xa vì bị bắn bởi lính canh hoặc bị cấu xé bởi cá mập. Chính những vết thương còn lại sau thời gian bị xiềng xích cầm tù đã “tố cáo” họ với lũ cá háu đói ấy.

Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phải thốt lên hai chữ “rất mạnh mẽ” để nói về cảm xúc của mình sau khoảnh khắc bước qua hành lang hẹp nơi Ngôi nhà nô lệ.

Và cũng chính những dấu tích gắn liền với thời kỳ lịch sử quan trọng này mà UNESCO đã công nhận các công trình trên đảo Gorée là di sản thế giới vào năm 1978.

2

Gorée của những xúc cảm mới

Gorée chất chứa trong mình vẻ đẹp “đa chủng tộc” do được khoác lên mình những mảng màu khác nhau. Qua mỗi thời kỳ cai quản, người Bồ Đào Nha, người Hà Lan, người Anh, người Pháp đã không chỉ đảm nhiệm công việc cai trị mà còn để lại ít nhiều những nét kiến trúc riêng biệt trên mỗi mảng tường, mái ngói, hàng cây.

Photo by Maggy Leoncelli (38)

Tôi mê cảm giác ngồi nghỉ trưa nơi góc thềm Bảo tàng Hải dương học. Khi đó, tôi đã được nhìn ngắm những bận rộn của dân làng. Lanh lảnh bên tai là tiếng hò hét vui vẻ của đám trẻ địa phương quanh trái bóng lăn, trước mắt là hình ảnh cụ già thong thả chuyện trò dưới bóng râm bao báp, xa xa là cảnh những người mẹ địu con trong hiu hiu gió biển Đại Tây Dương.

Photo by Maggy Leoncelli (36)

Theo lời của Caty, một người phụ nữ làm nghề bán trang sức địa phương, thì hòn đảo “không xe hơi, không cả xe đạp” này hiện là nơi sinh sống của khoảng 1700 người. Cư dân gắn bó nhất với hai nghề đi biển và kinh doanh các mặt hàng trang sức. Khi thuyền vừa cập bến cũng là lúc đám phụ nữ bán hàng chia nhau từng “con mồi” mà họ đã nhanh chóng cho vào tầm ngắm. Cứ thế, họ đi theo thân thiết gọi bạn là “cô bạn gái yêu dấu của tôi ơi”, “em gái nhỏ bé ơi” và tiếp đó sẽ là tiết mục khen bạn đẹp (nhưng vẫn đẹp hơn khi khoác lên mình trang sức của họ, tất nhiên!) Kinh nghiệm là nếu không đi cùng với dân địa phương thì tốt nhất là đừng mua gì cả vì kiểu gì bạn cũng sẽ bị hớ. Cô bạn Maggy của tôi từng được chào mời chiếc vòng cổ giá khởi điểm 40.000 CFA, nhưng rút cuộc lại mua về với số tiền vỏn vẹn 6.000 CFA.

3

Ngán ngẩm những lẵng nhẵng mời chào, anh chàng đồng hành rủ tôi bỏ lại tất cả náo nhiệt của khu vực bến tàu để cùng nhau lên le Castel, một khu đồi lởm chởm đá bao lấy vùng công sự của đảo, cũng là nơi có góc nhìn bao quát xuống toàn bộ hòn đảo.

Không còn những người bán hàng chèo kéo, chẳng còn tiếng mặc cả, trước mắt tôi giờ là cuộc sống len lỏi trong những ngóc ngách của công trình quân sự. Chủ nhà là những người nghệ sĩ hào phóng. Họ sẵn sàng mở toang cửa nhà mời bạn vào chơi sau chỉ một nụ cười chào, lôi cho được những quả baobab nơi góc nhà ra bóc tách “biểu diễn” thứ quả truyền thống, hay thậm chí là cố nhét vào tay bạn đứa cháu hàng xóm và đòi được chụp ảnh bạn với thằng nhóc. Tất cả những gì họ làm chỉ vị một mục đích duy nhất: để bạn có một ấn tượng Gorée độc nhất.

10671230_10152513984736947_7164936731006171109_n

Trong số những cư dân ở ngôi làng công sự này, nổi nhất có lẽ là Balla Ngongo, người nghệ sĩ Senegal nổi tiếng đã quyết định chọn le Castel ở Gorée làm nơi triển lãm một vài công trình sáng tác của mình. Hầu hết những tác phẩm này được làm từ vật liệu tái chế.

Photo by Maggy Leoncelli (26)

Lang thang giữa ngôi làng nghệ sĩ, chắc chắn bạn sẽ nhìn thấy một khẩu súng thần công khổng lồ chóc ngóc trên đỉnh đồi công sự. Khẩu thần công có tầm bắn đến 14km này chỉ được dùng đúng một lần vào năm 1940 bởi người Pháp, nhằm bắn hạ một chiếc thuyền của Anh trong trận chiến Dakar. Đến nay, dù gỉ rét xác súng vẫn còn nằm lại trên đỉnh. Điều thú vị là những xưởng vẽ thông nhau trong hầm công sự tối om kia có thể sẽ được dẫn ra ngoài từ “bụng” khẩu thần công ấy. Một khám phá bất ngờ và đủ vui cho một buổi chiều lang thang trên đồi.

Thế nhưng, le Castel lại không phải chốn lí tưởng nhất để ngắm vẻ đẹp cuối ngày ở Gorée. Tin tưởng kinh nghiệm lần thứ 5 đến đảo của anh chàng đồng hành, chúng tôi cùng nhau thả dốc xuống dưới trung tâm đảo và tiến vào một khoảng sân khuất. Nếu trí nhớ của tôi đủ tốt thì đó là ngôi nhà hoang có gắn biển “Sapeur Pompier” (Lính cứu hỏa) của một thời xa cũ.

Photo by Maggy Leoncelli (39)

Ngắm hoàng hôn tại nơi này đẹp hơn trên đỉnh công sự vì ở đây có tiếng trống sabar vẳng bên tai, có những điệu nhảy của mấy cô gái đảo, có tiếng cười đùa của lũ trẻ con chơi trò rượt đuổi và có cả một Dakar đang lên đèn trước mắt…

Hoang hon o Goree

Có lẽ vì khoảnh khắc này mà hoàng hôn lại là thời điểm nhiều cặp tình nhân cập bến Goreé nhất. Từ Dakar, họ chờ cho những dấu chân khách du lịch đã rời đi rồi mới lên phà ra đảo. Đâu có xa, giữa Dakar và Gorée chỉ cách nhau có một chuyến phà kéo dài 20 phút chứ mấy. Và nếu có để lỡ chuyến phà cuối cùng lúc 11 giờ đêm thì cũng có sao? Ngắm hoàng hôn cùng nhau trên đảo chẳng phải là một cái cớ quá thuyết phục để ở lại đây đêm nay…

TRANG AMI

Thông tin thêm

  • Từ Việt Nam, bạn có thể bắt chuyến bay thẳng đến Paris rồi từ đây lại bắt các chuyến bay Air France từ Paris sang Dakar (khoảng 5 giờ đồng hồ)
  • Francs CFA là đồng tiền được sử dụng rộng rãi ở một số nước khu vực Tây Phi, trong đó có Senegal
  • Loài cây biểu tượng của Senegal với hình hài sum suê như những bộ rễ mọc ngược có tên là baobab (bao báp). Cơm khô trong trái baobab được dùng làm một loại nước uống phổ biến có tên là “Bui”
  • Việt Nam không có đại sứ quán Senegal nên thủ tục xin visa sẽ được thực hiện qua Internet. Mọi thông tin liên quan bạn có thể tìm thấy tại www.visasenegal.sn

Hội An, nơi cả thế giới dừng chân (Travellive magazine, january 2015 issue)

Tôi đã rời những điều thân thuộc để tìm tới giữa lòng thế giới, để khi trở về thấy nhà mình là nơi cả thế giới muốn được cùng “nghỉ lại và ăn sáng”.

Hội An nơi cả thế giới dừng chân - Travellive magazine
                                      

Nếu hỏi đâu là thời điểm tuyệt nhất để đến Hội An, câu trả lời có thể sẽ rơi vào bất kì 11 tháng còn lại trong năm, nhưng kiểu gì cũng không thể là tháng cuối cùng! Có gì hấp dẫn trên những con phố vốn đã trầm mặc nay càng nặng nỗi ưu tư vì không khí lạnh? Biển Cửa Đại của những cơn sóng xám xịt làm sao sánh được với những ngày “nắng vàng, biển xanh và em”?

Thế mà, tháng 12 nhà tôi lại đông khách “airbnb” (bed&breakfast) nhất.

Tôi vẫn tức cười khi so sánh những vị khách này với hình ảnh làn gió ùa vào nhà, chẳng cần biết từ đâu và bao giờ thì rời đi. Tất nhiên là giữa những đến và đi là những mẩu chuyện cười đến rung cả bàn ăn, còn bàn ăn những ngày có họ cũng tung tóe hơn vì chẳng ai đủ từ tốn và kiên nhẫn dùng chiếc kềm bóc vỏ cua một cách bài bản như ở khách sạn có gắn sao.

Nghỉ lại nhà chúng tôi khiến họ có cảm giác thân tình như đây là nhà họ, nhà ở một nơi thật xa.

***

Chúng tôi không đến từ Hội An. Thiết tha một cuộc sống xa khỏi tiếng còi xe và không gian chật chội nơi đô thị, gia đình tôi quyết định dời về một xã nhỏ, cách phố cổ chừng 10 phút chạy xe. Người bố họa sĩ gốc gác miền Nam nước Pháp của tôi gần như ngay lập tức si mê mảnh đất có góc nhìn xuống cánh đồng hợp tác xã. Ông nhất định phải cất nhà trên mảnh đất ấy để sáng sáng được chạy bộ dạo quanh không gian ngát mùi lúa chín.

Hội An từ định nghĩa một đô thị cổ tấp nập hàng hiệu may đo, nhà hàng cà phê sầm uất, bỗng dưng trở thành một Hội An thôn quê, nơi mà vợ chồng Rebecca người Úc đến trải qua kì trăng mật đã để lại chia sẻ rằng họ quá yêu những buổi sáng cưỡi xe đạp băng qua đám gà, vịt (thỉnh thoảng còn có cả bò) rồi sau đó dừng chân trong chốt lát tại quán café đầu hẻm, trước khi bắt đầu một ngày khám phá…

Tôi đã chẳng bao giờ nghĩ được rằng “nhà ba mẹ” cũng là một phương án điểm đến trăng mật, nếu không có Rebecca.

HOI AN NOI CA THE GIOI DUNG CHAN-page-004

***

Hội An đã dắt chúng tôi đến với những gắn bó mới lạ.

Cách trung tâm phố cổ chưa tới 20 phút chạy xe máy là nơi sinh sống của một gia đình có nghề đi thuyền. Cả 7 con người ta mà chỉ chui rúc trong một căn nhà cấp 4. Nghèo nhưng hết cỡ hào phóng.

Hồi mới tới Hội An, ba tôi tình cờ gặp một chàng lái đò tự giới thiệu tên Dũng và được anh chàng mời đi thuyền. Trong lúc chèo, đám bạn thuyền bên hỏi mày lấy ông Tây bao nhiêu, anh chàng đáp chỉ chở đi chơi miễn phí và sẽ không đòi ông ta đồng nào. Tất cả diễn ra bằng tiếng Việt và mọi người nghĩ rằng ông không hiểu. Phải rồi, ông chẳng tỏ ra là ông hiểu, chỉ nín thinh động lòng.

Sau này, chúng tôi phát hiện rằng hôm đó Dũng không phải đang chèo cái thuyền của nhà anh ấy, đó là thuyền đi mượn.

Trở về nhà, cùng với tổ chức từ thiện Giọt nước, các tình nguyện viên sắm cho Dũng một cái thuyền để anh ngày ngày ngao du khu rừng dừa Bảy Mẫu. Có thuyền rồi, Dũng có thêm công việc chở khách mà đa số đều là những “làn gió” được nhà tôi dẫn đến.

Cũng may là thành phố đang rầm rộ đầu tư phát triển du lịch ở các làng nghề ngoại ven nhằm giảm tải sức tập trung của du khách trong khu phố cổ. Thế là anh Dũng không sợ thất nghiệp rồi.

***

Nói về đám bạn mới bước ra từ airbnb thì ôi thôi vô thiên lủng. Có cô nàng Ally Hàn Quốc chỉn chu tác phong người làm truyền thông ở một ngân hàng bên Singapore thì cũng có hai cô người Mỹ “lông bông” thế giới để khám phá về văn hóa “rượu chè”, dự tính sẽ cho ra đời một công ty nhập khẩu rượu vào Mỹ.

Hôm nay tôi có thể ăn tối cùng anh chàng Vivek gốc Ấn đang đi vòng quanh thế giới “để nghiệm lại xem bản thân có thực sự muốn lấy vợ hay không, trước khi quay về “chui đầu vào rọ”, tối hôm sau đã thấy mình đi bar với hai cô gái Đức thánh thót như sáo sậu.

Rồi đầu óc của tôi có phong phú tới đâu cũng chẳng đủ để tưởng tượng là có ngày mình chuẩn bị món điểm tâm Cao Lầu cho một anh chàng từng (cùng đồng nghiệp) làm ra Google Drive.

Hôm trước rõ ràng trong “profile” hiển thị thông tin khách là đầu bếp, trò chuyện mới hay anh chàng Pierre-Hugo đã chuyển hệ sang làm “nhân viên nhân sự của một hãng sản xuất máy bay”. Đơn giản vì “airbnb chưa cập nhật được công việc hiện tại, nó chỉ lưu lại công việc ở thời điểm tôi tạo tài khoản thôi”.

Từ đầu bếp đến nhân sự một hãng máy bay có lẽ chỉ cách nhau một gang tay thật.

***

Nếu cảng thị Hội An đã từng in dấu chân của các thương nhân người Nhật, người Hoa, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp đến bán mua trao đổi từ thế kỉ 15 trở lại, thì ngày nay cũng vậy, đây là nơi mà những trái tim ngoại quốc “tìm về, khóa trái cánh cửa lòng mình lại rồi vứt chìa khóa đi” (lối so sánh của đài DVTV).

Điểm chung của những con người này không chỉ là việc họ té vào tình yêu và sống lại Hội An mà còn vì họ đều đã đến đây và dưỡng bồi những giấc mơ đời mình.

Ban đầu học đến chơi 2 tuần, sau đó kì nghỉ được kéo dài thêm ra, sau cùng họ quay về nước dọn đồ sang đây ở hẳn. Họ có thể là bà kiến trúc sư mê ý tưởng mở một cửa hàng “brocante” (cửa hàng chuyên bán đồ cũ), có khi là tác giả văn học có tên trong sách giáo khoa, có lúc lại là nhà thiết kế mê mệt thứ lụa ở xứ sở nào xa lắc, nhưng cuối cùng lại chọn Việt Nam để hiện thực ước muốn tạo lập thương hiệu cho riêng mình.

Trong số những người bạn xa xứ ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với Reiko của quán U café Hội An. Cái tên U có thể hiểu thành hai nghĩa, hoặc là Ứ trong Ứ đọng – bởi quán hay bị lụt khi mùa mưa về, hoặc là Ừ như cách nói vâng của người Quảng. Quán café nằm bên bờ sông Hoài này không chỉ nổi bật với trường phái ẩm thực fusion (kết hợp truyền thống Việt Nam – Nhật Bản), dự án mở lớp đào tạo dịch vụ làm du lịch và ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Nhật và tiếng Etperantô) cho các bạn nhỏ khó khăn, mà còn nung nấu trong mình ước ao nhân rộng thứ cà phê hữu cơ mà mọi người lăn lội tìm được trên Daklak. Điều tôi quý nhất ở U nằm ở hệ thống lọc nước thân thiện môi trường duy nhất tại Việt Nam nhờ được trang bị một hệ thống cống sinh thái học (eco-biological).

Trong khi tất cả mọi người đều đang bận tâm đến việc giải quyết hậu quả của những cơn lũ nơi phố cổ, một người bạn Nhật lại loay hoay tìm cách lọc sạch những “cơn lũ” của quán café mình thải ra, để nó không ảnh hưởng tới môi trường sinh thái.

***

Người Nhật quan tâm đến Hội An cũng như cách mà người Việt tri ân bạn bè tứ xứ.

Bất cứ ai đến Hội An cũng ghé thăm chùa Cầu, một công trình do các thương gia Nhật Bản gom góp xây dựng vào khoảng thế kỉ 17 với mục đích ban đầu là để “yểm” con thủy quái Mamazu ngoài khơi xa, không cho nó quẫy mình làm động đất, cũng nhằm mang lại sự yên ổn làm ăn cho cư dân phố Hội. Nhân chuyến ghé thăm Hội An năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu đã đặt tên “Lai Viễn” cho chiếc cầu, mang ý nghĩa “bạn đến từ phương xa”.

Dù có thể là vô tình, ý nghĩa cái tên của cây cầu biểu tượng vẫn tồn tại trong thực tế hiện tại. Và biết đâu đấy, chính bạn cũng sẽ là một người “bạn từ phương xa” đến đây, té vào tình yêu và quyết định ở lại với người dân phố Hội.

TRANG AMI

Intouchable

Từ hồi chuyển vào nhà mới, mình như trở thành một trong những nhân vật chính của một bộ phim câm.

Trên mảnh đất này, ngoài mình là người trọ đầu tiên và duy nhất cho đến hiện tại còn có hai ông cháu. Mình nhìn thấy họ không nhiều. Vào đúng 9 giờ kém 10 mỗi sáng, người cháu luôn mặc chiếc áo màu da cam sẽ ngồi trên thềm nhà để chờ đợi một điều không thuộc phận sự của cậu ta. Cậu ta chờ mở cửa cổng cho mình.

Giữa mình và chàng thiếu niên này chỉ có hai lần nhìn thấy và nói với nhau lời cám ơn và xin chào, “khop chai” và “sabaidee”, mỗi ngày.

Với người ông, mình có nhiều cơ hội va chạm hơn. Đó là những va chạm không trực tiếp.

Vì không thể sử dụng một ngôn ngữ chung để truyền thông với nhau, mình chọn cách không sử dụng lời nói. Cho đến giờ này, tất cả những tủn mủn như việc cây đinh bị sút trên tay nắm cửa bếp hay việc nước toilettes không đủ mạnh đều đã được ông xử lí ngay hôm sau, khi mình đi vắng, dù không cần đến lời báo của mình.

Có lẽ ông đã nghe thấy tiếng mình cầm cán dao nện vào thanh nắm khi thử tự xử lí. Hoặc có lẽ ông thông thạo căn nhà của mình như chính không gian sống của chính ông nên cũng nhạy sóng với những khác thường.

Tuy nhiên, không phải bất cứ sự can thiệp không lời nào cũng khiến mình hài lòng.

Mỗi tuần 2 lần sẽ có một người phụ nữ đến dọn nhà mà sau này mình mới phát hiện đó chính là cô con dâu của ông già. Những ngày đầu khi mà mình còn chưa sử dụng căn bếp, nhiệm vụ của cô là chỉnh drap giường, chùi toilettes và lau nhà. Cách đây 3 hôm, cô khiến mình xấu hổ khi nhìn thấy bồn rửa chén chất đống đã được rửa sạch. Không một váng mỡ. Mình đã nhíu mày và gần như ngay lập tức tóm lấy điện thoại để nhắn tin cho chủ nhà. “Làm ơn hãy nói với cô giúp việc rằng rửa chén không phải là nhiệm vụ của cô ấy. Tôi sẽ là người rửa chén dĩa bẩn của mình”.

Thực tế, cảm giác nhìn thấy đống chén bẩn do mình gây ra được một người thứ ba xử lí không hề là một cảm giác nhẹ nhõm. Thậm chí, việc nghe cô bé người Việt lâu năm ở Lào bảo rằng “khu nhà của chị có lẽ chỉ người nước ngoài ở vì người Lào không thích sống gần chùa vì chùa là nơi người ta hay gửi tro và di ảnh của người đã chết đến để thờ cúng” còn khiến mình thấy nhẹ nhõm hơn.

Chị người Việt bán cơm tỏ ra ngạc nhiên khi mình sống một mình. Chị bảo, từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ chị ở một mình nên rất sợ điều này. Mình có sợ không?

Mình có tư cách để sợ không, khi mà mình không đang một mình.

Bằng một cách nào đó, họ luôn để mắt và thầm lặng canh gác cho sự tiện nghi của mình.

Hai người họ sòng phẳng một cách kì lạ.

Đó là hai người mà nếu tối qua được mình mang cho đĩa thịt heo kho sả thì sáng nay đã để lại ngay trong chiếc đĩa mang trả một quả đu đủ. Một quả đu đủ chín vàng.

#JesuisCharlie

Có lẽ sáng nay những người cha, người mẹ, người chồng, người vợ đó đã không hề biết được rằng họ sẽ có một ngày chấn động nơi công sở, lúc lên đường đi làm. Và tối nay, cả nước Pháp sẽ đón họ trở về trên những nẻo đường, quảng trường, góc phố.

Là yên nghỉ chứ không phải thảm sát vì ngòi bút của sự tự do chẳng chết bao giờ.

Hôm nay tất cả chúng ta là người Pháp. Là nhà báo. Là nạn nhân của khủng bố. Là những nhà cách mạng của tự do ngôn luận. Là Charlie!

10897790_10205844032319455_4696845038255927789_n

Xanh tươi chưa từng là một đặc ân

“Cultivé” là một tính từ có hai nghĩa mà mới nghe tưởng rất không liên quan trong tiếng Pháp, đó là “trồng trọt” (một cái cây có sự trồng trọt) và “học thức” (một kẻ có học thức).

Chỉ là tưởng thôi bởi nếu nghe lại nhiều lần, gặp lại trong nhiều ngữ cảnh, mới thấy chúng có một chút râu rễ nào đó dính líu tới nhau.

Nếu như một cái cây trở nên xanh tươi nhờ được ai đó chăm bón tưới tắm thì người nào được đắp bồi, dưỡng dục cũng sẽ tinh tường trước cuộc đời.

Con người may hơn cái cây ở chỗ họ có thể di dịch từ nơi này tới nơi khác để thu lượm kiến thức và quan trọng là có thể tự chủ việc phát triển trí tuệ của mình (hoặc không). Đấy, may mắn chia đều cho tất cả nhưng lại có nhiều người lầm rằng nó là một đặc ân riêng cho những đứa trẻ ngoan.

10912963_10203587250537877_1986027929_n

Cuộc sống không thể thiếu quần áo

Hay thật, cuộc sống của 10 tháng nay tóm lại gọn lỏn trong một valise và một két sắt. Nếu két sắt đựng những quyển sách đã vào đầu, thì valise chỉ toàn quần áo và những thứ sẽ cho vào đầu.

Con người ta có thể di cư từ nơi này sang nơi khác, chuyển đổi nền văn hoá này sang nếp sống khác chỉ với hành trang vỏn vẹn là một đống áo quần, vài ba quyển sách, một túi sản phẩm chăm sóc cá nhân, và tiền. Áo quần là thứ chiếm nhiều diện tích nhất.10402961_10205474015996570_8692288690296473414_n

Cả hôm nay vẫn luôn thắc mắc tại sao thứ mà ta cần nhất lại là thứ khiến ta cứ phải mang vào rồi lại cởi ra. Như tình yêu vậy, có khi rất gần, có lúc rất xa, có khi còn sống, có khi chết khô đi rồi, nhưng mỗi ngày ta vẫn cười, vẫn khóc với tình yêu. Áo quần cũng như tình yêu, phức tạp nhiều lúc muốn vứt quách, ở lỗ cho rồi, nhưng cuối cùng nó vẫn ở trên ta.

14983420890_fab1f55f62_o

Amsterdam, Amsterdam

 Gái hư đến Amsterdam ?

Tôi đặc biệt thiết tha những câu slogan đính trên áo thun du lịch ở các thành phố từng đặt chân qua. Bỏ xa những đối thủ nặng kí khác như Paris hoa lệ hay London nhiệt tình tuổi trẻ, Amsterdam chính là thành phố có những slogan khiến tôi liên tục ố á vì thích thú. Có chiếc áo thun với kí hiệu M (McDonald’s) bị chỉnh trang lại thành thế ngồi dạng chân gợi mời của cô đào nóng bỏng, không quên phụ họa thêm dòng slogan cố hữu « I’m lovin’ it ». Hay chiếc bao cao su có hình minh họa ở ngoài là ổ bánh mì baguette của người Pháp sẽ được khuyến mãi thêm dòng nhắn nhủ Bon appétit vô cùng mang tính hình tượng. Nhưng đặc biệt nhất vẫn là dòng slogan liên quan ít nhiều đến gái hư : « Gái ngoan (chỉ) lên thiên đàng, gái hư đến Amsterdam » hay « Gái hư trở nên hoang dại ở Amsterdam ». Khoan vội gật đầu, sự ngoan hay hư của một cô gái là điều không thể phán xét ngày một ngày hai.

Thật vây, thích thú đó, cười vui đó, nhưng mỗi lần đọc thấy chữ gái hư ở Amsterdam, tôi vẫn thấy trống hoác trong lòng một nỗi lăn tăn khó tả. Các cô khách du lịch ngoài kia dễ dàng phá lên cười khi vô tình « được » liệt vào hàng gái hư như cái slogan đã tố cáo, nhưng chắc chắn có những cô gái không thể cười nổi khi nhìn thấy dòng chữ đó. Đó là những cô gái điếm buồn của tôi. Em có thể từ Mỹ Latinh nồng nhiệt, Phi châu nóng lửa hay tự chính Âu châu quê mình. Sự khác biệt từ chính hình hài, màu da của những cô gái bán hoa ở De Wallen (khu đèn đỏ lớn và có tiếng nhất ở Amsterdam) thể hiện ngay chính thái độ của họ khi ỡm ờ chào mời với khách. Với số lượng đối thủ cạnh tranh dày đặc và những ô cửa kính dọc khắp các con kênh khu trung tâm, các cô gái bán hoa tự tìm cho mình những các tiếp cận khách hàng khác biệt. Có cô táo bạo tiến sát ô cửa kính sẵn sàng kéo tuột chiếc quần nhỏ khi có khách tỏ ý săm soi, có cô thẳng thừng trừng mắt trước những khách du lịch vị thành niên hăng hái tò mò, nhưng cũng có nàng bình thản nhìn đoàn khách du lịch duyệt binh qua mắt mình, như thể ánh mắt soi mói là một phần của cái nghề buôn hoa bán phấn mà cô đang đeo đuổi. Raluca, cô bạn Rumani của tôi, có lần còn nhìn thấy một cô gái điếm bình chân như vại ngồi đọc sách đằng sau ô cửa hoang lạc.

Vậy đó, ai bảo một cô gái điếm thì không được đọc sách? Và càng chẳng có lí do để cấm họ đọc sách trong lúc chờ hành nghề. Cái sự chờ đợi của những cô gái điếm thực ra không mới. Họ đã chờ những chuyến tàu cập bến từ hồi thế kỉ 14, chờ những anh thủy thủ cần kíp một chút tình nơi đất cảng. Hồi đó, sau những chuyến lênh đênh bạc sóng, thủy thủ đã quá quen thuộc hình ảnh những người phụ nữ xách đèn lồng đỏ đến cảng biển để tìm khách. Và Khu đèn đỏ ra đời như một lẽ dĩ nhiên : có cung ắt có cầu. Chính vì những người đẹp đã giữ một vị thế quan trọng trong đời sống ái ân của giới thủy thủ mà trong bài hát « Ở cảng Amsterdam », danh ca người Bỉ Jacques Brel đã xướng lên :

« Ở cảng Amsterdam

Những chàng thủy thủ lướt khướt

Họ nốc và lại nốc

Rồi lại cứ nốc mãi

Họ nốc rượu chúc tụng những gái điếm từ Amsterdam

Từ Hambourd hay từ nơi khác nữa… »

Cũng như trái tim những chàng thủy thủ trong bài hát « Ở cảng Amsterdam » (Jacques Brel), khát khao nổi loạn của người trẻ trong tôi luôn đòi được thỏa mãn khi đến phố thị nơi này – thành phố của những « đôi chân cột bong bóng ».

Thành phố có đôi chân cột bong bóng

« Ba ơi, có phải là khi còn trẻ, người ta phải một hút cần sa trong những quán cà phê ở Hà Lan không ?» Câu hỏi đó dường như luôn vang lên sau cánh cửa của gia đình có con cái đến tuổi vị thành niên trên khắp thế giới này. Chị gái Elise của tôi cũng có lần nói « Đến giờ tuy đã đi du lịch khắp nhiều thành phố trên thế giới nhưng chị vẫn chưa đến Amsterdam vì những người bạn đã đến đó về đều xiểng liểng vì cần sa và những đêm trác táng ». Không phải tự nhiên mà Amsterdam bị cả thế giới đánh đồng với hình ảnh thác loạn, bởi nó là nơi quy về một mối của những thói hư tật xấu bị bài trừ ở hầu như đa số các quốc gia khác. Trong cái thành phố có vẻ ngoài hết mực lãng mạn và chỉn chu này, hết gái điếm lại đến cần sa.

Tháng 5 năm ngoái, giới chức Hà Lan quy định nửa cuối năm 2011 sẽ không cho phép bán ma túy cho khách du lịch nước ngoài, khiến những người chưa một lần đến Amsterdam sốt sắng tiếc nuối cho ngày tàn của một thời đại hút và bay. Tuy nhiên, đến đầu năm nay, tình hình tiêu thụ ma túy trong du khách nước ngoài vẫn chưa có gì cấm cản. Xoay quanh chuyện bật đèn xanh cho ma túy cũng có một số điều lệ đắt giá: Không bán ma túy nặng, không quảng cáo, cấm bán cho trẻ em, không bán hơn 5g cho một lần giao dịch với một người…

Các coffee shop là nơi người ta có thể mua và tiêu thụ cannabis (cần sa, một loại ma túy lấy từ cây dầu gai) và ma túy dưới những quy định khá nghiêm ngặt. Có thể bắt gặp hình ảnh cannabis xuất hiện trên những logo, kí hiệu ở khắp mọi nơi, ngay cả trong các cửa hàng lưu niệm cũng tràn trề những chiếc kẹo mùi cannabis. Mùi nồng ngái của loại cần sa này vẫn luôn lởn vởn thoáng ẩn thoáng hiện trên đường phố Hà Lan. Nếu thực sự quan tâm đến cannabis, bạn có thể tìm đến các bảo tàng cần sa nằm khiêm tốn cạnh các con kênh khu trung tâm. Ở dưới các bảo tàng này thường có một căn phòng bên dưới tầng hầm để trồng cần sa cảnh và đừng quên đặt câu hỏi cho những nhân viên bảo tàng.

Có dịp dừng chân một coffee shop bít bưng kín cửa then cài, tôi còn nhớ như in cảm giác hồi hộp khi đưa điếu thuốc quấn cần sa lên miệng, trong tiếng ngăn cản yếu ớt của anh bạn đồng hành. Với khoảng 5 euros cho một điếu thuốc quấn, tôi vậy là cũng đã có cảm giác thử qua một trong những món ăn chơi khét tiếng cấm kị trên đời. Nhưng thật… tiếc là tôi đã chẳng có cảm giác gì đáng kể bởi theo lời của anh chàng phục vụ trong quán giải thích thì « Những người đã từng hút thuốc sẽ không có được cảm giác gì vào lần đầu tiên hút cannabis ». Vậy nên, không phải bất kì ai cũng có thể có được cảm giác « Đừng uống và lái xe mà hút và bay » như slogan dễ dàng bắt gặp ở Amsterdam.

Mùa Xuân năm nay, chị Elise quyết định cùng chồng và cậu con trai trưa tròn một tuổi ghé thăm Amsterdam lần đầu tiên trong đời. Tôi trộm nghĩ, có lẽ Elise muốn tận mục sở thị phố thị nơi này để chuẩn bị cho khúc mắc của cậu con trai trong chừng hai mươi năm nữa. Chẳng biết lúc đó Amsterdam có còn bật đèn xanh với ma túy không ? Nếu mà có thì tôi (may phước) chắc không phải là người buồn nhất.

TRANG AMI

Cho tôi một chốn để ngủ, và ăn sáng

 

Thường đến chơi nhà những người bạn nước ngoài, tôi rất ấn tượng với những buổi điểm tâm sáng hào phóng và thân thiện. Dù có phải đến công sở từ sớm thì họ vẫn bày ra la liệt những bánh ngọt, mứt quả nhà làm, chuẩn bị đúng phóc loại nước trái cây bạn hay uống hay không quên để lại mẩu sticker chúc một ngày tốt lành viết vội.

Và BnB đã mang lại cho tất cả chúng ta cơ hội được chiêu đãi với tất cả thịnh tình như thế, dù đó là ở nhà một người xa lạ!airbnb

Gần hơn với con người

Dịch vụ ngủ lại và ăn sáng tại nhà một ai đó bạn không hề quen biết từ trước là concept của BnB (hay B&B, BB) và sáng kiến này được cho là “gần với con người nhất” trong số những concept nghỉ trọ khi đi du lịch. Khi đó, những người chủ nhà sẽ chào đón bạn với sự tử tế của một người cung ứng dịch vụ, sự hào phóng của một người bản xứ nhiệt thành và sự thân thiện như một người bạn lâu năm không gặp.

Mò mẫm trên trang web Airbnb, bạn sẽ được “thậm nhập” vào thế giới đằng sau những cánh cửa, gặp gỡ những câu chuyện đời sống, ngắm nghía cách mà họ trang bày cho căn nhà của mình, và điều quan trọng là sẽ có cơ hội trải qua kỳ nghỉ với bất cứ gia đình nào có mặt trên hệ thống. Đó có thể là căn phòng gác mái của con cái chủ nhà đã đi du học, hay đơn giản là căn phòng của một cậu sinh viên về nước nghỉ Giáng sinh, muốn cho thuê lại vài ngày để “hòa vốn” thuê nhà. Vì lẽ đó, bạn sẽ có thể tự do ngắm nghía những dấu ấn cá tính của họ thể hiện trong việc trưng bày nội thất, đọc “ké” những cuốn sách họ đã từng gối đầu giường, thay vì nghỉ lại những căn phòng lạnh lẽo hơi người nơi khách sạn.

Nói là “ngủ và ăn sáng” nhưng vẫn có những gia đình sẵn sàng nấu cho bạn một bữa cơm tối thân mật (tất nhiên là có trả phí thêm, ngoài chi phí thuê phòng). Thậm chí, họ còn có thể cùng bạn đi tham quan thành phố, tham gia các hoạt động chèo thuyền, trekking, lội suối, dẫn bạn đến gặp những người thợ thủ công trong làng…

Giờ đây, việc được ngủ tại một căn hộ có ban-công muôn hoa đua sắc với góc nhìn xuống tháp Eiffel, qua đêm ở một trang trại trên thảo nguyên bát ngát, nghỉ ngơi trong một căn phòng hiện đại sáng loáng giữa New York city… đã không còn quá xa vời. Và điều đặc biệt là mỗi nơi đều có những câu chuyện đằng sau đang chờ bạn khai mở.

Vẫn là nhà, nhưng ở một nơi rất xa

Nếu còn nhớ bộ phim The holiday, bạn chắc chắn sẽ khó quên được khoảnh khắc cô nàng Iris nhảy cẫng lên khi lần lượt khám phá những ngóc ngách tiện nghi, độc đáo trong cơ ngơi sang trọng của Amanda, người đã đồng ý đổi nhà cho cô trong suốt kỳ nghỉ Đông năm nào. Hai cô gái với hai phong cách sống hoàn toàn trái ngược nhau, đã tình cờ đến ở nhà nhau và rồi tìm thấy những lí lẽ đáng yêu của cuộc sống từ chính “phi vụ đổi chác” đó.

Với BnB sự thú vị cũng y hệt vậy, bởi bạn sẽ được chia sẻ gần như tất cả mọi thứ với chủ nhân: phòng khách, phòng bếp, phòng đọc sách, hồ bơi, sân vườn và cả những tài lẻ của nhau.

Annette tu Uc

Gia đình tôi có đợt đón hai cô cậu 17 tuổi từ Sydney, ghé nhà vào chặng cuối của chuyến hành trình gap-year trước khi cả hai trở lại Úc làm thêm để bù lại số tiền thâm hụt cho chuyến du lịch. Đêm cuối, cả nhà tôi rủ cả hai cô cậu đi một quán café nhạc sống hát cho nhau nghe, và họ đã khiến cả hội bất ngờ vì khả năng chơi trống, hát hò điêu luyện, vốn là kết quả những đêm cả hai đi bar hát kiếm tiền.  

Còn Elise từ Singapore thì chia sẻ: “Điều khiến mình thích nhất khi BnB đó là có người trò chuyện cùng, chẳng hạn vào buổi sáng khi ra dùng bữa trong chính phòng khách của chủ nhà. Còn nếu ở khách sạn thì sẽ chẳng có ai nói với mình quá một câu Xin chào, mọi người rất giữ kẽ, câu nệ”. Có lẽ vì sự thoải mái đó mà Elise dường như cũng rộng lòng hơn với những câu chuyện của mình. Cô đã kể rất nhiều với tôi về Xã hội Malaisia nơi cô sinh ra và trưởng thành, Singapore nơi cô cùng chồng đang làm việc, những vùng đất châu Âu cô đã rong chơi thời du học hay cả những kế hoạch cho chuyến trăng mật ở Kenya sắp tới. Từ bao giờ, vị khách Elise đã trở thành cô bạn gái mà tôi nhất định sẽ hẹn gặp khi ghé Singapore.image

Có thật mọi cánh cửa đều mở?

Tất nhiên là điều này chỉ có trong quảng cáo! Chủ nhà không thể lựa chọn tính cách con cái của chính họ, nhưng lại hoàn toàn có quyền treo biển “miễn tiếp” những-đứa-con-từ-trên-trời-rơi-xuống nếu cảm thấy bạn không phù hợp, vì họ sẽ phải sống cùng với bạn trong suốt quãng thời gian đó.

Mỗi chủ nhà và thành viên BnB đều có một trang mạng riêng, cho phép để lại nhận xét về nhau. Cứ thế, người thứ ba sẽ có thể đọc thấy những ấn tượng bạn đã để lại trong lòng những vị chủ nhà trước đó. Và tất nhiên, bạn cũng sẽ đọc được những ấn tượng của mấy vị khách trước về vị chủ nhà đó.

Thế nên, miễn “ngoan”, chẳng ai sẽ nỡ từ chối cho bạn một chỗ trọ và một bữa điểm tâm “nhà làm”!

TRANG AMI

Những tên gọi khách của BnB trên thế giới

  • Ở Cuba, bạn có thể bắt gặp mô hình này tại “casa particular”
  • Người Pháp lại có cách gọi khác là “chambres d’hôtes”, tạm dịch sát nghĩa sẽ là “những căn phòng của chủ nhà”
  • Tại xứ Tây Ban Nha, tên của BnB là “casas rurales”
  • Và cuối cùng, người Hà Lan sẽ gọi hình thức này là “pension”

 

 

Thất nghiệp ở Pháp và ở Việt Nam

Nói thất nghiệp ở Pháp thì oan quá vì chưa bao giờ mình thực sự tìm việc ở Pháp (với suy nghĩ tìm cũng sẽ không thấy, thấy cũng không tới lượt mình, nên thôi thì không trông mong từ đầu), còn Việt Nam thì cũng chẳng phải đang thất nghiệp mà là “bỏ một chậu nước ngọt để chuẩn bị nhảy qua thau nước mặn” – nhưng dù sao cũng là cảm giác bỗng nhiên rảnh rang sau một thời gian vò võ 9 tiếng văn phòng mỗi ngày. Thử làm một so sánh về trải nghiệm thất nghiệp Pháp – Việt Nam, cho vui!

Báo

Bánh mì hay nhậu

Thất nghiệp ở Pháp đáng quan ngại hơn ở Việt Nam khoản ăn uống vì chẳng ai sẵn sàng mua cho mình một cái bánh mì, vì bạn còn lo cái bánh mì của bạn (bạn nào cho vay hẳn bột mì để nhào bánh thì đã cho mượn rồi, trả nợ bạn chưa xong thì vay thêm đâu có được, mà thể loại “bạn bột mì” chỉ đếm trên đầu ngón tay thôi). Mỗi lần đi siêu thị về chất đầy tủ lạnh là một lần sót ruột, dặn lòng lần sau mua ít nhé, tiền trong tài khoản cạn rồi, khoản nợ đã to hơn rồi. Còn ở Việt Nam, một người bạn tỉ năm chưa gặp vẫn sẵn sàng bóc đầu đi nhậu. Chỉ cần mình đủ dũng khí nói “tôi hết tiền” thì sẽ được bao lô trọn gói, từ đồ nhắm tới rượu, bia, café, thuốc lá, hệt như chúng mình vẫn chưa hề có cuộc chia ly – dù túi nó có khi tiền còn xẹp hơn cả túi mình!

Facebook và mặt người 

Ở Pháp, một ngày thất nghiệp bắt đầu bằng công việc lên net, vừa điểm tâm vừa comment Facebook, vừa ăn trưa vừa like Facebook, vừa định ngủ trưa lại có notification ầm ĩ rồi bận rộn reply đến quên luôn giấc ngủ, chiều tà tính ra phố đi siêu thị cũng bị Facebook mê hoặc đến giờ đóng cửa (lại nghĩ “may quá, có Facebook bữa nay lại lui tiền chợ được một ngày)… Thành ra, ở Pháp mà scandal một phát biết ngay, cô nào vừa up cái gì lên Facebook xong bẽ bàng kéo xuống cũng ghi tâm khắc cốt, chuyện Facebooker này ghét Facebooker nọ tự nhiên cũng vơ vô người để rồi thấy nội tâm mình giằng xé hệt như người trong cuộc. Thế là hết giờ, thế là chìm vào giấc ngủ, thế là hôm sau lại tiếp tục chương trình văn nghệ với hai vị Facebooker đâu đâu và quên luôn nhiệm vụ kiếm việc cấp bách.

Rảnh không, không rảnh

Thất nghiệp ở Việt Nam, có quá nhiều việc để làm nên chẳng phải giờ phút nào cũng kịp nhớ ra là “à, tôi thất nghiệp”. Buổi sáng vừa mở mắt đã lao lên word gõ bài, tự hiểu đây là giờ phút hiếm hoi bình yên quý giá nhất trong ngày. Vừa hay, ngoại ngọt ngào “chở ngoại đi chùa”, là lại ra đường nhìn dòng người lao tới chỗ làm với tất cả hưng phấn “ô hô, ta đây rảnh không, ta đây không có một ngày 9 tiếng đằng đẵng trước mắt”. Hàng ngay ra đường gặp một, hai, ba, năm, bảy, chín, một trăm, một triệu… bao nhiêu con người qua lại giữa phố phường, chẳng như ở Pháp có cả tuần lễ chỉ ra ngoài đúng hai lần để đổ rác và đi siêu thị. Tối về nhà, thấy mình vẫn giữa lòng Xã hội, rủi ro tự kỷ bay xa.

Đi hay ở

Thất nghiệp ở Pháp rất áp lực về những chuyến di cư. Thời gian còn lại để kiếm việc đếm bằng mùa, bằng tháng. Mỗi sáng thức dậy đã lo nghĩ đến một cái ngày nghe-thì-xa-tít-tắp nhưng lại gần-ngay-trước-mắt. Cái ngày hết hạn trong thẻ cư trú. Áp lực thứ hai đến từ những chuyến đi của bạn. Ở Pháp, thất nghiệp, suốt ngày lên Facebook, suốt ngày nhìn thấy những check-in của bạn bè ở xứ này xứ khác, thấy tủi thân, thấy chùng chân, thấy cảm tình lấn át bao nhiêu là sáng suốt. Tự động đặt mình và cái-kẻ-vừa-check-in-kia lên một bàn cân vô hình với lòng vòng những câu hỏi “Tại sao nó làm việc ở Việt Nam mà vẫn có tiền đi du lịch nước ngoài”, “Tình hình trong nước đã khá đến mức lương cao thế ư?”, “Hay là mình cứ ở lại đi… bưng phở”? Đi về Việt Nam hay đi bưng phở, mãi mãi là một câu hỏi quá khó để có câu trả lời. Cái nào cũng hấp dẫn, dù về Việt Nam thì được đường hoàng vào ra tiệm Phở, còn ở Pháp thì phải cun cút chạy đi bưng Phở cho kẻ khác ăn!

Photo from Internet

Run rẩy và niềm tin

Thất nghiệp ở Pháp, bước ra đường tự nhiên thấy mình là kẻ tội đồ. Lên tivi thỉnh thoảng lại nghe Đảng này Đảng nọ cãi nhau có nên tống hết dân nước ngoài về. Đi xin gia hạn thẻ cư trú, đụng phải ánh mắt dò xét của bà viên chức “có thật muốn học ngành này thêm để nâng cao hiểu biết, hay chỉ là một động tác giả để kéo dài thời hạn cư trú”. Lúc trả lời bà viên chức, cố gắng nói cứng “tôi không xin bất cứ trợ cấp nào từ nước Pháp ngoài trợ cấp tiền nhà như quyền lợi của bất kì sinh viên nào khác, tôi không ở lại Pháp để đi làm thêm bất hợp pháp” nhưng giọng run rẩy, cả người run rẩy, cả một tâm trạng run rẩy khi nghĩ về quãng đường phía trước. Còn ở Việt Nam, thất nghiệp đã là chuyện quá thường. Bạn cũ gặp lại, phân nửa chưa có việc làm hoặc đang cần mẫn đếm lui giờ làm ở siêu thị, cửa hàng. Ông bạn tốt nghiệp Kinh tế hí hửng khoe đã vào được Lễ tân một khách sạn 5 sao, ông anh kể chuyện cậu bạn cùng lớp Bách khoa hài lòng với vị trí bảo vệ khách sạn, một người lạ nào đó hụt hẫng và khiến gia đình phát khóc khi bị nghỉ việc, dù đó là công việc nhận mẫu xét nghiệm và chỉ cần vận động đôi chân để chạy lên chạy xuống cầu thang – tiệt không đụng tới chuyên ngành mấy năm Đại học. Thất nghiệp nhưng không thiếu việc, bởi cơ hội vẫn ở khắp nơi. Hàng ngày vẫn ra rả tuyển nhân viên bán hàng đa cấp. Mạng việc làm vẫn liên tục update. Bạn bè vẫn í ới “mày ơi, tao có dự án”. Và bao nhiêu thứ công việc muốn-làm-trong-đời như chạy bàn café, bartender, sửa xe gắn máy vẫn hấp dẫn mời gọi một lần trải nghiệm. Thấy đời vẫn vui, tiền vẫn dễ kiếm, và mình vẫn hài lòng.

Từ chối và tại sao lại bị từ chối

Thất nghiệp ở Pháp căng thẳng mỗi lần nộp đơn. Nộp xong sợ nhận một lá thư từ chối trong thùng thư, sợ nhận mail kêu đi phỏng vấn sẽ không có tiền nhảy tàu, sợ gọi skype sẽ không nghe kịp người ta nói gì, sợ ngoại ngữ không đủ tốt để đảm nhiệm công việc dù chỉ mới đọc miêu tả, sợ tính hài hước của mình bị “chênh, phô, vô duyên” khi nghĩ tới những cuộc vui công sở, sợ đủ điều, sợ được nhận việc thì cả một mớ thủ tục lằng nhằng cần phải đối diện nữa. Còn ở Việt Nam lại chẳng sợ bất cứ một “thế lực thù địch” nào. Điện thoại nghe không rõ sẽ “Xin lỗi chị vui lòng nói to hơn một chút nhé”. Ở Việt Nam, không nhận được thư trả lời sẽ gọi điện trực tiếp lên cơ quan tuyển dụng hỏi “tại sao chưa trả lời”, bị từ chối sẽ viết mail “tại sao tôi thế này mà không nhận”. Hà ha.

Tiền, tiền

Thất nghiệp ở Pháp mệt mỏi về tâm trạng, chán chường về cuộc sống, héo úa về tâm can, cảm thấy cô đơn, cảm thấy chẳng ai đủ tiềm lực tài chính cho mình vay mượn khi cần thiết. Ở Việt Nam, cuộc đời vẫn chảy trôi tuồn tuột, dự án vẫn nhiều, tiền vẫn vào, đồ ngon vẫn ê hề, những chuyến đi vẫn mời gọi và… tiền vẫn thiếu, nhưng không bao giờ kẹt. Ngoại sẵn sàng “đi về quê đi, đi đi rồi ngoại bao, bao hết từ A tới Z, con khỏi phải lo”. Mẹ sẵn sàng vồ vập hỏi “bao nhiêu, khi nào cần” mà chẳng màng “tại sao, bao giờ trả”, hoặc thậm chí mặt mày ủ rũ buồn tình đều bị mẹ quy ra là hết tiền để rút tiền ra cho vì một lí lẽ nào đó “đó, đi mà đổ xăng”, “mua cái chi mà ăn”…

Vui hay không vui

Tóm lại, thất nghiệp ở đâu cũng đau khổ thiếu thốn, nhưng ở Việt Nam thì không cấp bách, mà quan trọng là vui. Vui vì không còn phải lao nhao chạy đua với cái máy tính giờ làm bằng vân tay, chẳng còn phải mệt mỏi chống chọi với không khí điều hòa qua giờ Ngọ. Vui vì biết mình không còn phải đối chọi với ông chủ nhà cho thuê, chẳng còn sợ bị chính phủ sở tại đuổi về quê, không sợ ra đường với cái túi lép kẹp chục euros đổ lại (với mình có 200k cầm ra đường đi uống café là ngon rồi). Vui vì mình thất nghiệp ở Việt Nam, nhưng sở hữu một tấm bằng của Pháp. Bằng của Pháp muôn năm, bằng của Pháp muôn năm.

TRANG AMI

((Thế giới gia đình, số ra 22/4/2014)

P/s: Câu cuối đang chọc ngoáy các bạn du học Pháp về mà thất nghiệp đấy nhé haha.

Photo from Internet

Những chuyến xe đêm (Người Đẹp magazine, January issue, 2014)

Vượt biên luôn cho tôi cảm giác nghiêm trọng, dẫu cho biên giới châu Âu đã rộng mở đến mức hải quan còn chẳng buồn chặn xe lại hỏi thăm.

Đã có một năm trời tôi bắt tuyến xe bus Hà Lan – Pháp (và ngược lại) trung bình một lần mỗi tháng. Những lần đầu có hơi khớp, nhưng đi một hồi rồi cũng đến lúc không còn cảm giác đơn độc. Tôi cũng chẳng còn lạ lẫm những đôi mắt ái ngại của đội cảnh sát khi nhìn cô gái mơn mởn tuổi đôi mươi, một mình một lap ngồi trước sảnh nhà ga, chờ bắt chuyến bus khởi hành lúc nửa đêm. Có lần bác tài gốc Ả rập muốn lừa tôi xuống thành phố lạ để tiết kiệm quãng đường. May mà tôi không dễ bị lừa, lì lợm, và nói được tiếng Pháp.

Chừng đó chuyến xe là bao nhiêu lần được nghe những lí lẽ vượt biên khác nhau. Có lần tôi ngồi cạnh một ông bố làm nghề thợ sơn nhà, vừa tan việc là ông nhảy xe đi thăm cậu con trai học ở Grenoble luôn. Ông không đủ thời gian để sửa soạn gì nhiều, hành trang vỏn vẹn một túi bánh mì cho đỡn tốn tiền mua thức ăn dọc đường, những giọt mồ hôi của cả ngày lao động ngoài trời còn chưa kịp khô. Khoảng cách cả ngàn cây số của hai cha con tự nhiên được lấp đầy. Ông bố hứng thú nói với tôi rằng, chỉ một cái chớp mắt thôi, ông sẽ được thấy cậu con trai của mình. Mà đúng là chỉ một cái chớp mắt thật, ông dễ ngủ cực kỳ – vừa nhắm mắt là ngáy o o đến sáng.

Một lần khác, tôi gặp cô bé mới lớn phải chia đều những kỳ nghỉ của mình cho bố và mẹ, vốn đã ly dị và sống ở hai đất nước khác nhau. Ước mơ của cô bé giản dị thôi “không cần hai người quay lại với nhau, chỉ cần một trong hai dời về thành phố mà người kia sống để em đỡ phải đi đi về về”. Vậy đấy, đôi khi những đứa con chỉ cần một sự chia ly ít rắc rối kéo theo, để chúng đủ sức quan tâm một lúc được cả hai người lớn.

Điều khiến tôi yêu thích những chia sẻ dọc đường kiểu này có lẽ vì nó không có chỗ cho sự đánh giá. Người kể chuyện cũng không sợ xúc cảm của mình rơi vào tai một kẻ thứ ba nào khác. Trong khoảnh khắc mơ màng của đêm tối, người ta cũng chẳng muốn phân định giữa chuyện của mình hay người khác.

Lần nọ, chú chó nghiệp vụ của cảnh sát Luxembourg lần ra mùi cần sa trong ba lô một anh chàng đi cùng xe bus. Dù không biết sẽ phải chờ đợi trong bao lâu, nhưng cả xe đã nhất trí ở lại chờ. 3 tiếng sau khi anh chàng quay lại, cả xe chỉ hỏi thăm xem đã diễn ra những gì trong đồn cảnh sát, tuyệt không một lời phàn nàn. Anh ta đã gặp đủ rắc rối rồi, nếu tiếp tục phải chịu đựng bọn tôi thì chẳng phải anh chàng sẽ càng thêm mệt mỏi sao? Lần đó tôi nhận ra một điều kỳ cục rằng những người xa lạ chính ra lại dễ bao dung cho nhau nhất.

Quãng đường The Hague – Rotterdam – Antwerpen – Brussels – Liège – Luxembourg – Dijon chỉ có một, nhưng mỗi chuyến đi mang lại cho tôi một cảm xúc mới toanh. Có lẽ vì những nỗi bận tâm trong đầu tôi thay đổi theo từng thời điểm, vì người đồng hạnh ngồi ghế bên cạnh cần những sự hỏi thăm lại từ đầu, và vì cuộc sống ngoài ô cửa kia cũng chuyển động theo mùa. 12 tiếng thật ra cũng có phần ngột ngạt với một đôi chân không được duỗi thẳng vào những mùa nắng đẹp, nhưng mùa Đông thì khác. Tôi thích cảm giác bó gối ngắm tuyết bám thành lớp bên ngoài cửa kính. Thỉnh thoảng giữa đêm tối lại hiện lên một cây thông

Noel được quấn sau những dải đèn màu lấp lánh. Tất cả những thần tiên của mùa Giáng sinh cứ thế trải dài ra trước mắt.

Rồi những chuyến xe vượt biên giới cũng phải có ngày kết thúc. Chuyến hành trình cuối cùng thực sự khó, tôi thậm chí đã không dám nhìn ra cửa sổ mỗi lần xe lướt qua những góc phố quen. Đừng nói là quen, bởi tôi đã từng bước đi trên đó bao giờ?

TRANG AMI

Photo from Internet

Ai đã trở thành người Hà Lan sau tôi? (Người đẹp magazine, December issue, 2013)

Một năm ở Hà Lan thật là kỳ lạ. Tôi hệt như một kẻ “ngoài lề Xã hội”, không hề biết thế sự nước đó như thế nào, xăng xe rau ráng đắt rẻ ra sao. Chuyện, tôi có biết đọc tiếng Hà Lan đâu. Đó là nơi mà tôi chỉ hiểu được một số từ bản ngữ thông dụng vẫn la liệt xuất hiện ngoài phố: Đẩy/ Kéo (cửa), Phòng vệ sinh, Nhà cho thuê/Nhà bán, Miễn phí, Phụ nữ/Đàn ông, Cám ơn và Thịt Gà.

Không biết chữ địa phương, lại lười mở miệng nói chuyện bằng ngôn ngữ quốc tế (nhiều người Hà Lan lớn tuổi vẫn có thói quen trả lời bằng ngônngữ của họ), tôi đành quan sát mọi người bằng giác cảm cuối cùng qua đôi mắt. Những ngày chưa quen với hệ thống đèn giao thông dành cho xe đạp, tôi cứ thế máy móc bắt chước những người đạp xe trước mình, để rồi ngạc nhiên thấy mình cũng liều lĩnh băng ngang khi có đèn đỏ, miễn khi đó dưới làn đường không có xe chạy. Không biết đọc mấy tấm tích-kê dán ngoài bì đựng thức ăn, tôi đoán mò mức độ ngon dở qua cái nhíu mày của những người mua hàng trong siêu thị.

Cuộc sống cứ thế tiếp diễn, tôi và mọi người cứ thế hiểu nhau qua những ánh mắt nhìn. Ít có cơ hội truyền thông, hoàn cảnh sống dễ dàng đẩy tôi vào nhiều khoảnh khắc thấy mình đơn độc.

***

Người ta vẫn thường nói rằng sự cô độc là điều đáng sợ không nên đánh bạn cùng, là vì con người cần phải được gói tém bằng những giá trị của quần thể. Nhưng Hà Lan đã cho tôi thời cơ để được thui thủi trong căn hộ ở Cornelis Houtmanstraat.

Những buổi tối với hai cô bạn chia nhà là niềm vui hiếm hoi của giai đoạn đó, đơn giản vì những nỗi lo riêng đã quắp họ ra đường vào ban ngày. Raluca làm việc suốt ngày ở một quán bar kiểu Anh, sáng chủ nhật thường là thời gian bận rộn nhất với đám khách mê Rugby. Caty lại là tín đồ tiệc tùng, cô thường hay “lêu lỏng” ở nhà một người bạn nào đó từ tối thứ 6, đôi khi ngủ luôn ở đó đến chiều chủ nhật mới lồm cồm về nhà, chuẩn bị cho một tuần làm việc mới. Cuộc sống thui thủi của tôi vậy là vẫn được duy trì. Đôi khi cả tuần lễ chỉ đặt chân ra đường vài ba tiếng để lên trường hoặc đi siêu thị.

Niềm vui ít ỏi còn lại của tôi là khi đạp xe giữa những con đường mòn trong khu rừng cạnh nhà. Cây cối và bầu trời an ủi tinh thần bằng thứ màu xanh nguội lạnh, chỉ có cảm giác lành lạnh xốc vô mũi là trọn vẹn. Những lúc đó thấy nhớ cảm giác ngồi sau tay lái người thân của mình, giữa những cánh rừng ở miền Nam nước Pháp. Nhớ, nhưng sau đó lại phải ý thức rằng đã đến lúc người phải cầm lái của cuộc đời rừng rú này.

***

Đạp xe cuốn mình vào một vòng chuyển động không ngừng nghỉ của cả đôi chân và đầu óc. Những lúc chưa biết sẽ phải mua gì ở siêu thị Albert Heijn gần nhà, tôi không vội đi đường lớn mà đạp xe băng qua đường rừng để tiện đường suy nghĩ. Huống gì đây cũng là cách khiến mình đẹp lên, trong mắt chính mình và cả người khác. Trong cuốn “In the city of bikes” của tác giả Pete Jordan, ông hào phóng phong phụ nữ Hà Lan có vòng ba hấp dẫn nhất thế giới nhờ thói quen đạp xe xuống đường mỗi ngày. Thật tình tôi chẳng thiết

có vòng ba thu hút, nhưng lại đủ keo kiệt để không chịu chi 2,4 euros chỉ cho 30 phút đi tàu điện. Hơn nữa, trừ khoảng thời gian lúc vừa leo lên yên xe, suy cho cùng đạp xe cũng là cách làm ấm mình hiệu quả.

Đúng vậy, lí do thuyết phục nhất của việc chuộng xe đạp có lẽ là để chống lại cái lạnh của biển Bắc. Có thể thấy những chàng trai mặc vest đạp xe đến công sở mỗi sáng, nghe đâu trong số đó có cả ngài thủ tướng.

Còn một điều khiến tôi luôn sờ tới ghi-đông của mình, ngay cả những ngày Đông lạnh lẽo là vì những “va chạm” rất con người. Chiếc xe đạp cọc cạch mấy lần đổi chủ tôi mua ở Amsterdam, cả khóa lẫn xe chỉ vỏn vẹn chỉ 60 đồng, nhưng mỗi lần lủng lốp, tôi lại phải chi đến sáu trăm nghìn cho một cú vá xe. Thế mà có những lần vắng chủ, anh thợ sửa xe cao gấp đôi người tôi đã sẵn sàng phẩy tay, bảo hãy đi đi trước khi ông chủ kịp về. Hi vọng người Hà Lan đủ tử tế với nhau để không cần phải dùng đến camera theo dõi ở chỗ làm.

Còn nữa, đã hơn một lần ai đó đạp xe lên “nhắc tuồng” tôi về cái chân chống lỏng lẻo. Bản thân tôi vẫn thường đạp xe thật chậm ngang chỗ người nghệ sĩ đường phố trước nhà ga trung tâm, để được nghe ông ta gào thật to những nỗi khổ sở của mình. Sau này, trước khi rời Hà Lan tôi quyết định mua một CD của người nghệ sĩ mang tên Chuck Deely này. Album có tên Street Living, hiển nhiên rồi!

Có câu “Kẻ chưa từng bị ăn cắp xe đạp thì chưa phải là một người Hà Lan thực thụ”. Cho nên, dù từng sống ở đó hơn mấy trăm ngày, cuối cùng tôi vẫn chưa được là một người Hà Lan đích thực. Đành tạo điều kiện cho một ai đó muốn làm người Hà Lan sau mình bằng cách để xe lại trước nhà ga Den Haag Centraal.

TRANG AMI

Metro in Paris (Photo from Internet)

Métro Paris là một con ếch! (Người Đẹp magazine, số tháng 10)

Métro Paris rất ngược đời, trái khuấy! Chẳng thể tưởng tượng những chiếc cổng kì công phong cách Art Nouveau được giới nhiếp ảnh trầm trồ theo đuổi, lại dẫn ta vào cảnh tượng nheo nhóc của giới ăn xin đường phố hay những người vô gia cư lăn lóc ngủ trên ke. Vậy mà, trên chính những chuyến tàu điện ngầm bệ rạc đó tôi đã thấy mình lớn lên, cùng với tình yêu nước Pháp nảy nở bên ngực trái.

Paris-metro-porte-Dauphine (Photo from Internet)

***

Chắc những cô gái đó sẽ không tưởng tượng được là chính tôi cũng từng nhìn những cặp đôi Âu – Á vào ra quán Phở chỗ làm thêm với cùng một niềm ganh tị tương tự. Có lẽ họ đã tưởng là cô gái trông có vẻ sung sướng này chưa từng biết đi làm thêm bị bóc lột là gì, bởi một người có bạn trai người Pháp hẳn sẽ không chấp nhận làm ở một nhà hàng châu Á với mức lương rẻ mạt, nhất là khi công việc đó không được khai báo hợp pháp? Một chàng trai Pháp mực thước, lãng mạn và hào hoa chắc chắn sẽ không bao giờ chấp nhận những điều đó và để cho cô gái của mình phải động tay vào. Những rất tiếc là họ đã đoán sau, sai từ việc đoán mò tôi và François là một cặp.

Cũng như họ, tôi cũng đã sống qua những chuyến tàu cuối ngày với đôi chân mỏi rục và một trái tim mỏi mệt vì những nỗi lo cơm áo. Đó là những ngày nhìn Paris hoa lệ, không sợ cướp, chẳng sợ bị cướp, mà chỉ sợ tương lai sẽ phải tiếp tục trải qua những ngày chạy bàn không thấy mặt trời như vậy. Nhưng rồi, chỉ cần nghĩ tới ngày mai là tất cả mọi năng lượng ở đâu bỗng chốc ùa về, đủ giúp tôi kéo đôi chân mỏi rạc về đến ngôi nhà của ông bà Bertrand-Blanche đã cho tôi trú ngụ.

Photo from Internet

Sau một giấc ngủ, tôi biết sáng mai ra mình sẽ được mặc những bộ quần áo thơm tho và đẹp đẽ, cùng métro lao đến văn phòng thực tập ở quận vương giả nhất Paris, rồi sau đó sẽ đi shopping ở đại lộ Champs Élysées. Tôi sẽ lại được vào ra những bảo tàng nghệ thuật mà giới mộ điệu toàn thế giới vẫn luôn mơ ước được một lần đặt chân tới trong đời. Và quan trọng là khi những tháng ngày thực tập ở Paris kết thúc, tôi sẽ lên tàu về Besançon phố cổ êm đềm, nơi một chàng trai Việt Nam đã theo đuổi tôi qua quãng đường dài hơn 10.000km, đang chờ tôi trở về.

***

Trên chuyến tàu tiến vào Paris ngày đầu tiên đến Pháp, tôi thấy tràn trề nỗi thất vọng ghê gớm. Những bức tường đầy những graffiti, những cửa sổ mà áo quần phơi tứ chiến, những khu chung cư nhếch nhác – hứa hẹn những cuộc đời phức tạp, chẳng như một Paris lịch lãm vẫn thường bắt gặp trên phim ảnh. Tôi thậm chí đã cho cả máy ảnh vào ba-lô vì biết sẽ chẳng cần đến nó trong suốt hành trình vào đến Gare du Nord.

Những bến métro quen thuộc của thuở đầu ngơ ngác là nơi mà hầu như khách du lịch nào cũng đều ghé qua, bến Trocadéro nơi có thể cho cả tháp Eiffel vào lòng bàn tay hay bến Charles de Gaulle Étoile dẫn ra Khải Hoàn Môn chẳng hạn. Lúc một mình, tôi thường sẽ băng rất nhanh qua các đường hầm quanh co của hệ thống métro được cho là phức tạp nhất thế giới mà không cần phải quá lăn tăn điều gì. Tại sao phải sợ nhầm đường khi ta có quá nhiều thời gian rỗi. Chẳng phải đằng nào thì cũng sẽ tới đích và không có ai đang đợi ta ở bến cuối sao?

Không, sẽ có người chờ tôi ở bến métro nào đó chứ! Vấn đề chỉ là thời gian. Khi đã sống ở Pháp dài lâu hơn và những mối quan hệ mới đã được nới rộng ra, chắc chắn sẽ phải có một ngày nào đó có ai đó chờ tôi ở bến Opéra quen thuộc – nơi vẫn thường lẻ loi ngồi nhìn thành phố lên đèn, thắp sáng những chờ mong được ai đó dắt tay đi.

***

Bậc tam cấp trước Opera_Photo từ Internet

Cuộc hẹn là vào 9h tối trước bến métro nhà hát lớn thành phố vào ngày thứ hai của Lễ phục sinh và tôi vừa bấc giác thấy bóng người đang tiến tới. Là François. Anh chàng tiến gần và làm thủ tục hôn vào hai má tôi, đường hoàng trở thành chàng trai Pháp đầu tiên được tôi hẹn hò riêng lẻ. Không với tư cách hẹn hò của một cặp đôi, nhưng phải thú thật là tim tôi đã đập loạn nhịp mỗi lúc anh chàng cúi người xuống, nhờ nhắc lại một điều gì đó ban nãy anh không nghe rõ, mỗi lúc anh nhắc nhớ tôi đừng lăn tăn mà hãy bước qua vạch kẻ vì đường phố bao giờ cũng ưu tiên cho kẻ bộ hành (đặc biệt khi kẻ đi bộ là một cô gái trẻ chưa chồng!)… và nhất là khi đám nhân viên phục vụ của nhà hàng Nhật Bản kín đáo ngó nghiêng việc tôi được sánh bước cùng một anh chàng gốc Pháp điển trai đến thế.

***

Tại sao tôi gọi métro ở Paris là một con ếch? Vì mặc cho lớp da xấu xí của ấn tượng ban đầu, chỉ cần một ít thời gian gắn bó, con ếch sẽ biến thành chàng hoàng tử dẫn tôi đến tất thảy những ngóc ngách đẹp đẽ nhất Paris và dắt tôi qua bấy nhiêu cung bậc của một thời thật nhất của tuổi trẻ.

TRANG AMI

Sao ta vẫn chưa chịu rẽ

Sao ta vẫn chưa chịu rẽ? [Người Đẹp số tháng 9]

Một cái vẫy tay chào từ buồng lái của chiếc máy bay chạy ngược chiều bên kia đường băng, một chiếc chong chóng phấp phới trên nóc xe taxi vào ngày khai giảng, một chuyến xe đầy ắp tiếng nhạc Daft Punk với người-bạn-không-tuổi… khiến những chặng đường dễ thương hơn biết mấy.

Thời gian đi thực tập ở thành phố Montpellier nơi miền nam nước Pháp, ngày nào tôi cũng phải trải qua gần hai tiếng khứ hồi trên tramway. Có hàng tá cách để sống qua quãng thời gian tẻ nhạt này, nhưng không hẳn lúc nào chúng cũng phát huy tác dụng. Bao giờ tôi cũng bắt đầu buổi sáng với một, hai, hoặc ba đầu báo miễn phí được đặt nơi bến. Vừa đọc báo vừa canh me giờ tàu đến trước Gare Saint Roch để lại mau mắn nhảy xuống tàu, máy móc băng qua công viên Planchon, rồi lại miệt mài bắt một chuyến tàu khác. Trên đường trở về, tôi lại bận rộn với những mẩu chuyện không đầu không cuối của những người ngồi cùng toa. Có khi là tiếng một anh chàng đang bàn luận về bộ phim tối qua với cô người yêu trong điện thoại, có lúc lại là tiếng người mẹ hỏi dò xem con gái hôm nay đã được trường cho ăn gì vào buổi lỡ. Mọi sự cứ diễn ra đều đặn như thế, cho tới khi nghe thấy tiếng cô bé học trò nói to với lũ bạn “Ráng lên nhé các cậu, nốt hôm nay là cuối tuần rồi đấy” thì ngày hôm nay của tôi mới thực sự bừng tỉnh. Những niềm vui nho nhỏ thường tình của ngày được nhìn nhận với một tâm hồn tràn trề xúc cảm: “Cái maxi chocolat giòn rịm, giọt chocolat chảy tới tận răng. Hai ông bảo vệ ở tầng dưới vẫn mỉm cười chúc ngày tốt lành, chào mình khi bước vào tòa nhà. Phòng ăn chung thơm phức mùi nước chùi nhà. Vẫn còn chỗ trong tủ lạnh để đặt thức ăn mang theo cho buổi trưa.” Những hạnh phúc giản dị thôi, nhưng không phải ngày nào tôi cũng nhìn thấy được.

***

Astor, một ông bạn họa sĩ của gia đình, có lần nhắn nhủ là ông hi vọng sẽ không phải nhìn thấy tôi chạy theo một chiếc taxi vàng chạch ở New York. Ý của Astor là ông muốn tôi sẽ có một tương lai khác hơn, với những mục đích theo đuổi khác những cô gái khác trên đời. Có lẽ Astor nghĩ trên đời này chiếc taxi nào cũng na ná và chán phèo như nhau, nhưng ông đã lầm.

Ở Việt Nam hè này, lần đầu tiên tôi được ngồi trong một chiếc xe taxi không sặc mùi điều hòa máy lạnh, đơn giản vì bác tài đã chủ động nhét vào nắp xe một nắm lá thơm. Chỉ có những người tỉ mẩn và thực sự yêu quý công việc của mình mới có thể nghĩ ra một cách làm ngạt ngào như vậy. Hay, trên đoạn đường Trần Cao Vân vào ngày lễ khai giảng năm học, tôi sung sướng chạy đuổi để nhìn theo chong chóng bảy sắc vầu vòng lắp trên nóc một chiếc taxi vàng. Không cần biết người lái taxi này có phải cố tình làm như vậy để “dụ khị” những cô cậu học trò lười đến lớp, hay đơn giản chỉ để tô điểm cho một ngày đặc biệt trong năm của cậu con trai út, nhưng từ lúc nào, xúc cảm riêng tư của bác tài đã lan tỏa và biến chuyển thành một thứ thiện cảm chảy tràn trong tôi, và cả những người đi đường khác nữa.

Cũng có những người đồng hành đã khiến những chuyến xe của tôi trở nên vô cùng thi vị. François là một người như vậy. Trước khi lên xe, anh chàng đã sốt sắng hỏi tôi hôm nay có xịt nước hoa không? Nếu câu trả lời là có á, anh ta sẽ không sờ tới điếu thuốc nào trong cả chuyến xe vì sợ mùi khói sẽ ám vào nước hoa kẻ đi nhờ. Sự ga-lăng của người Pháp cũng được thể hiện rõ nhất trong cách người ta điều khiển xe. Lần tôi đi ké xe François về căn hộ chia chung, lúc gần đến cái gốc dẫn lên vỉa hè, anh chàng mau mắn: “Xin lỗi Trang, em sẽ tha lỗi cho anh nhé, vì anh cho xe lên vỉa hè nghĩa là em sắp phải ê mông lắm đấy!” Hay, ngày đến Paris lần đầu tiên trong đời, trong lúc chờ đèn đỏ nơi ngã tư sau Nhà Thờ Đức Bà, một anh chàng lái xe bus hai toa đã dừng phịch cái xe của anh ta để cho tôi qua đường, dù khi đó đang là đèn xanh của anh ấy. Rầm! Tôi vừa bị anh chàng lái xe bus của RATP bắt cóc trái tim rồi!

***

Viết trên Facebook, bạn tôi liến thoắng kể rằng cha cô luôn mở những album của nhóm nhạc Daft Punk vào những khi đúng thời điểm nhất, với những nấc volume hợp lí nhất, và “Voilà, đó là tại sao tớ luôn sướng điên lên khi được chạy qua những chuyến xe ròng rã cả 12 tiếng đồng hồ một ngày với ông ấy”.

***

Thời du học, căn hộ của tôi ở Hà Lan nằm ngay cạnh một khu rừng vốn là nơi sinh sống của nữ hoàng Hà Lan và gia đình hoàng tộc từ mấy mươi năm nay. Từ ngã ba con đường Cornelis Houtmanstraat, chỉ cần quẹo trái và đạp băng qua đường là tôi đã đến được khu rừng Haagse Bos trứ danh. Chỉ tiếc là tôi chỉ biết đến sự tồn tại của nó vào một ngày nắng lên, nhân lần chọn đi đường khác để lên trung tâm thay vì đạp theo lối mòn của con đường quen thuộc mỗi ngày.

Như thế đó, cuộc sống có nhiều ngã rẽ của những hạnh phúc hiển nhiên và vô số cách để mỗi chuyến hành trình trở nên thú vị, mà sao ta vẫn chưa chịu quẹo?

TRANG AMI

Zurich 2010 - Photo by Trang Ami

Chỉ là suýt thôi! [Người Đẹp magazine, September issue)

Amsterdam, Zurich và Barcelona là ba trong số nhiều thành phố đã chiếm lĩnh một phần ngọt ngào của kí ức, nhưng chẳng nơi đâu đủ sức níu tôi ở lại.

Tôi có duyên với Hà Lan. Noel đầu tiên du học xa nhà, thành phố du lịch đầu tiên mà tôi đặt chân tới chính là thủ đô không ngủ Amsterdam. Tất nhiên, trái tim bé bỏng của cô gái 19 tuổi đã chẳng thể cầm cự nổi những buổi tối nhấp nháy ánh đèn của phố đèn đỏ về đêm, thanh âm cuồng nhiệt nơi các quán rượu và nhất là sự thu hút từ những anh chàng có đôi mắt xanh màu biển cả. Đó là những ngày điểm tâm ở pub, buổi lỡ ở bar và đêm về lang thang hộp đêm cạnh khách sạn để thử cho bằng hết những loại cocktail trứ danh ở đời. Tối khuya thậm chí còn có cả tiết mục phì phèo cannabis (một loại ma túy hợp pháp ở Hà Lan). Phải rồi, người ta đến Paris để yêu, đi Barcelona đặng trầm trồ những công trình kiến trúc và đến Amsterdam để “bay”. Phấp phới đâu đó trước các cửa hàng lưu niệm nơi khu centrum, bạn sẽ dễ dàng bắt gặp những chiếc áo thun du lịch “Đừng uống và lái xe mà hãy hút và bay” (Don’t drink and drive, let’s smoke and fly”), nhắc nhớ về một chuyến đi nông nổi mà cuồng nhiệt sẽ không có một lần nào khác. Cũng có lẽ vậy mà ở bất kì ngóc ngách nào của thành phố, bạn cũng sẽ ngửi thấy mùi cần sa tung bay trong gió. Trên đường trở về Pháp, túi tiền tôi còn đúng 3 đồng 2 euros và lí lẽ giúp tôi vượt qua được sức níukéo của Amsterdam đơn giản là vì sau bất cứ cơn say nào cũng cần một cái đầu tỉnh táo (ít nhất là để còn biết tìm đường về nhà).

Drunk in Amsterdam _ Photo from Internet

Sau Hà Lan, tôi tìm đến một thái cực hoàn toàn khác lạ bằng cách dốc hết vốn liếng vào tiền mua vé tàu, lên đường đến một trong những thành phố sang trọng nhất nhì Thụy Sĩ. Lần đó, vali tôi chất đầy thực phẩm khô vì biết trước mình sẽ không đủ tiền để chi cho những bữa ăn đắt đỏ ở Zurich. Ôm một trái tim hồn nhiên và khờ dại, tôi té vào tình yêu với tất cả ngưỡng mộ dành cho thành phố nơi ta được bước đi trên những núi vàng. Chẳng có nơi nào trên thế giới giữ tiền tốt hơn Thụy Sĩ, và đây có lẽ cũng là nơi mà người ta ít ngần ngại chi tiền cho những thụ hưởng trong đời. Viết cho bạn bè ở nhà, tôi ghi: “Ở mấy nước khác nếu có gara để xe hơi ngay trong khu trung tâm đã là kẻ lắm tiền, thì tại cái đất Zurich này, người ta còn có cả gara để đựng ca-nô riêng”. Vào buổi tối, tôi đặc biệt thích dạo chơi trên Bahnhofstrasse, nơi được mệnh danh là một trong những đại lộ đắt đỏ và xa hoa bậc nhất thế giới. Khi đó tôi sẽ tha hồ ngó nghiêng bộ sưu tập thời trang mới coóng, hay săm soi mác giá chục ngàn euros dành cho những chiếc đồng hồ đỉnh cao của sự tỉ mẫn và chuẩn xác. Chuyến tàu dạo quanh sông Limmat vào buổi chiều cũng là một trong những khoảnh khắc tôi muốn nhiều lần sống lại. Theo chuyến tàu trôi xa, sẽ chỉ còn tiếng chim hót trong vườn bách thảo hay cảnh những người bạn hào hứng chuyện phím nơi quán café ven sông. Những tất bật và toan tính của đời sống tự nhiên tan biến vào sắc trắng của tuyết vĩnh cửu trên đỉnh Alpes ở phía xa trời. Với một cô sinh viên đang phải xoay vần giữa cơm áo gạo tiền của đời sống hàng ngày, việc đến Zurich cho tôi cảm giác gấp rút của một kẻ đang bí mật dạo chơi trong ngôi nhà người khác, cứ nay náy lo chủ nhà sẽ về bất chợt. Và tôi đã rời Zurich với lí lẽ rằng chúng tôi chưa thể là một cặp “môn đăng hộ đối”.

Photo from Internet

Đến Barcelona, tôi loáng choáng trong nỗi thân quen khủng khiếp với những chiếc xe không biết tới làn đường, của những nhà hàng mà tiếng chuyện trò ồn như một trận cãi vã, của con phố đi bộ mà đội ngũ móc túi khét tiếng ma lanh nhất nhì thế giới, của đám đông khách du lịch lách cách máy ảnh, của những nhóm doanh nhân những nước giàu mới nổi đi loanh quanh các ngõ ngách, lợi dụng khủng hoảng để manh nha thu mua mọi thứ. Barcelona luôn làm tôi nghĩ tới thành phố triệu dân của mình ở Việt Nam, lắm xe gắn máy và đủ thể loại âm thanh đường phố, nơi tất cả mọi hoạt động đều diễn ra ở ngoài đường từ sáng hôm đến tối mịt. Nhưng rồi, sau tất cả những xấu xí đã thành nếp của một thành phố ra dáng kinh đô du lịch, Barcelona đã rất nhiệt tình trong việc kéo tôi vào một giấc mơ còn chưa muốn tỉnh. Trong giấc mơ đó không có những giấc ngủ thiếu giờ, không deadline chất đống, chẳng Internet, cũng mặc kệ luôn những ngổn ngang dự tính ở hay rời Âu châu. Barcelona khẽ nói với tôi  là “đừng đi đâu hết, ở lại đây, với anh”.

Photo from Internet

Và suýt nữa thì tôi ở lại thiệt, nhưng chỉ là suýt thôi.

Bởi, cũng như bất kì phố thị khác trên đời, tôi đã lỡ xem Barcelona như một trong vô số chặng dừng chân đời mình. Không được ở lại, để có thể tiếp tục đi, và đi xa hơn.

TRANG AMI

Những ngôi làng nước Pháp

Làng Bèze, ngôi làng của những ngôi làng

Làng Bèze gây ấn tượng trong tôi không chỉ vì nó được mệnh danh ngôi làng đẹp nhất nhì nước Pháp, mà là của những cảm nhận về câu chuyện và con người Pháp.

Trong hồi ký của một người Pháp, tôi đọc thấy nỗi băn khoăn sau: “Hồi đó, niềm vui giản đơn lắm, các gia đình tụ họp lại với nhau vô cùng dễ dàng. Giờ đây người ta chỉ tập trung lại ở sân vận động hay trước máy thu hình. Phải có một ai đó trong nhà chết đi thì cả gia đình mới có dịp tụ họp và những mối thân giao mới được nối chặt thêm một chút. Cuộc đời cứ thế mà trôi đi…”

Chủ nhân cuốn hồi ký ý là đang nhắc về những ngày tuổi nhỏ đầu thế kỷ 20, khi mỗi buổi chiều các gia đình hàng xóm tụ họp lại nơi góc làng để bày ra những cuộc picnic cùng nhau.

Có lẽ vùng Bourgogne, nơi sở hữu ngôi làng Bèze trong mơ, cũng đã nhận ra những lợt lạt trong mối liên hệ của mọi người mà cho ra đời chiến dịch “Tous aux “fantastic picnic” – sự kiện picnic được tổ chức tại khắp vùng Bourgogne vào dịp hè, mà làng Bèze cũng không ngoại lệ. Nhưng thật ra, có đến Bèze rồi mới thấy đây là một ngôi làng vốn nhiều gắn kết sẵn rồi, thậm chí nó còn đủ sức để chọn làm điển hình cho những ngôi làng nước Pháp còn lại.

Ngôi làng của những ngôi làng

Trước hết phải nói luôn là những ngôi làng Pháp trong mắt tôi không hề giống với những ngôi làng ở nước khác, hay thậm chí là làng Pháp trong mắt người khác. Tôi không yêu nước Pháp của những toa tàu mà hơn phân nửa số người hí húi cắm mặt vô màn hình cảm ứng, bỏ lơ những cánh đồng lúa mì ngút tầm mắt đang lần lượt chạy ngược vào tim. Với tôi, để yêu một ngôi làng thì trước hết là phải quen một người làng mà mối bận tâm của họ cũng là những tốt đẹp ngoài kia cửa sổ. Có lần, một người chủ động bắt chuyện với tôi: “Trời đẹp quá hen con, mùa Xuân cuối cùng cũng tới rồi đó. Ngày nào cô cũng đi tuyến tàu này…” và sau đó những câu chuyện về cuộc đời cô, cuộc đời tôi tiếp diễn theo cách đó.

Tóm lại cho gọn thì một ngôi làng với tôi cần phải biết lưu giữ những vết tích xưa cũ và thu hút thêm nhiều tình cảm tươi mới, của cả những người không phải con cháu trong làng.

Ngày đến thăm Bèze, không kể các hang động, nhà thờ và những con hẻm nhỏ dọc ngang khu trung tâm, ấn tượng trước nhất của tôi là với bài hát tập thể “Chevaliers de la table ronde” mà cả nhóm tham quan đã cùng hát vang trong lúc chờ phục vụ bữa trưa. Bài đó có câu “Khi tôi chết hãy chôn tôi dưới một hầm rượu”. Sau này, một người bạn Việt kiều lâu năm đã cho tôi biết rằng không có người Pháp nào mà không biết bài hát này: “Hễ có rượu vang vào là có bài này. Thích nhất là câu chót “Điều nhắn nhủ trong bài hát này là có cần phải biết thưởng thức rượu vang ngon cho đủ nghĩa đời người không” và khi đó tất nhiên mọi người sẽ chẳng chần chừ mà đáp liền “Oui Oui Oui”.

Thưởng thức rượu là một trong những nét văn hóa đặc trưng của từng vùng tại Pháp, nhưng mỗi làng lại có một cách thể hiện tình yêu với rượu khác nhau. Ở ngôi làng Gignac nơi cô Simone của tôi thường hay đi cắm trại hè, ông trưởng làng thậm chí còn kêu gọi mọi người đem rượu tới một hang động tập thể để cùng ủ rượu chung. Mỗi người chỉ cần tới với một loại nho của mình, sau đó chỉ cần đợi công đoạn sản xuất, đóng chai và ủ rưuợu trong nhiều tháng liền. Những người không có ruộng nho cũng có thể tìm tới mua những chai rượu nhà làm như thế này với giá rất rẻ.

Nơi này được mệnh danh là một trong những ngôi làng đẹp nhất nước Pháp với dòng sông “La Bèze” chảy ngang. Hôm tôi đến là một ngày trời âm u như muốn làm bão lớn, vậy nên nước sông dâng cao tới tận thềm cầu như muốn lấp đầy tất cả những dấu gạch nối của nhà cửa trong làng. Điểm an toàn nhất để tránh bị lũ lụt có lẽ là tòa tháp ven sông, nơi phụ nữ trong làng từng một thời tới lui giặt giũ.

Nơi phụ nữ làng thường ra giặt giũ- Credit Photo: Trang Ami
                                                   

Mỗi người là một ngôi làng

Sự ra đời của làng Bèze bắt đầu từ việc thành lập tu viện Bèze-Fontaine rồi từ đó lịch sử phát triển của làng luôn gắn bó với lịch sử của tu viện. Cho đến khi tu viện đã không còn tiếp tục tồn tại thì cuộc sống của làng Bèze như vẫn được tiếp sức nhờ những giá trị mà các vị tu sĩ đã để lại. Trước đây, những người tu sĩ đã phải lao động cật lực với khung giờ nghiêm ngặt được chia đều cho mỗi mùa. Chẳng hạn, họ phải thức giấc lúc 2 giờ sáng vào mùa Đông để tụng bài kinh đêm trước khi tiếp tục hoàn tất giấc ngủ của mình. Ban ngày, bên cạnh những yêu cầu đặc thù của tôn giáo, họ thường phải làm công việc đồng ruộng, vườn tược, nhà cửa và đảm nhiệm đủ mọi chứ danh: nông dân, tiều phu, thợ làm bánh mì, công nhân sửa nhà…

Tôi cảm nhận rất rõ sự tự hào của cô gái hướng dẫn viên trong chuyến tham quan động “Grottes de Bèze” trong mỗi tiểu tiết được cô nhắc tới. Thỉnh thoảng cô lại chêm vào bài nói bằng những sẻ chia “mượt mà” hơn rất nhiều những thông tin khô cứng, chẳng hạn như việc kể gia đình cô có mấy thế hệ đã sinh sống tại đây hay tại sao cô lại quyết tâm tìm hiểu về hang động để làm hướng dẫn viên vào dịp hè – dù đây là một công việc hoàn toàn mang tính thiện nguyện.

Cũng chẳng phải hiển nhiên mà hai vợ chồng Joron đã quyết định rộng cửa khu vườn của mình (Le Jardin du petit lavoir) để chào đón mọi người đến thăm. Đây là ngôi vườn tư nhân rộng lớn nhất mà tôi từng có dịp ghé chân tại Pháp, nơi có những góc vườn mơ ước vẫn thường gặp trong những bộ phim quý tộc xưa, với tòa tháp, tu viện, và hàng ngàn loài hoa đủ mọi hương sắc. Những khoản thu từ phí tham quan vườn sẽ được ủng hộ cho chương trình thí nghiệm, tìm tòi những phát minh Y học mới từ các loài hoa. Mọi thứ cứ loanh quanh một vòng tuần hoàn khép kín, kể cả lòng tốt của con người.

Trong ngôi vườn nhà Joron

Tình yêu làng mạc có lẽ đã ngấm dần với trái tim bất kì người Pháp nào, vậy nên họ mới có thói quen làm việc quần quật cả một đời để cuối cùng lại tìm tới một ngôi làng của-người-khác và tậu một nơi trú ngụ cho phần đời còn lại. Cũng có những người Pháp dù đã an cư tại một ngôi làng mới mà vẫn quyết tâm mang tới đây những dấu tích của ngôi làng xưa cũ. Chẳng hạn, tôi đã bắt gặp một loại cây leo xuất xứ vùng Alsace (tuốt gần biên giới Đức) được trồng ngay hàng thẳng lối trong vườn của tu viện. Lí do vì những người sơ tán alsacien trong Thế chiến thứ hai đã mang theo trên chuyến hành trình đời người một giống cây thân thuộc vì sợ không bao giờ có cơ hội quay trở lại làng,

Đi Bèze về, tôi phát hiện ra một điều là dù cho đời sống có chở ta đi thật xa thì bất kì ai cũng chỉ muốn được trở về sống tại một ngôi làng vào lúc cuối đời.

 TRANG AMI

(Bài đăng trên tạp chí Người Đẹp, số tháng 7, 2013) 

 

935078_10201778898460941_1253557754_n

Nơi trái tim thuộc về [Người Đẹp, July issue]

 

Đó là một căn hộ ba người với ba quốc tịch đại diện cho mỗi lục địa khác nhau – Raluca từ Rumani, Cathy từ Mexico và tôi. Thật ra, tôi thích gọi nó là căn hộ Magarita theo tên loại cocktail mà Cathy thường pha hơn. Ở đó, ba đứa chúng tôi đã ngồi hàng tiếng đồng hồ bên khung cửa sổ rồi kể nhau nghe những câu chuyện trọng đại (hoặc không), sau những viền môi nhuốm muối còn thanh mùi tequila và chanh. Chúng tôi ở cạnh nhau bất kì khi nào có thể. 9 giờ sáng cuối tuần trước khi mỗi đứa chui vào lãnh địa được phân công mà kì cọ, rửa chùi; là 14 giờ sau một giấc ngủ mê mệt vì tiệc tùng từ hôm trước; là 18 giờ lúc Cathy vừa được giải phóng sau những vòng xe đạp đi làm về, sau khi băng qua bao nhiêu nhà ga, thành phố.

Căn hộ Maragarita là nơi tôi có một cửa sổ rộng ngay đầu giường với góc nhìn xuống khu vườn sau nhà kiểu mẫu của người Hà Lan, cũng là nơi tôi tha hồ chứng kiến sự lớn lên của những đứa trẻ hàng xóm mà mãi đến khi rời đi vẫn chưa một lần chào hỏi. Có lẽ vì quá bận rộn với những diễn tiến hạnh phúc trong căn hộ của mình cùng hai cô bạn chia nhà lí tưởng, tôi đã quên luôn việc chạy xuống tầng trệt, gõ cửa một thế giới khác và nói xin chào.

Ảnh

Cũng trong năm ngoái, tôi thấy mình trên những tuyến bus đêm vượt biên giới đi đi về về với anh. Cái căn hộ bẩn và tối nằm trên tầng 7 một chung cư đã chừng 50 năm tuổi đời nghiễm nhiên trở thành khải hoàn môn của những chuyến xe 12 tiếng ròng. Trên những chuyến bus đầy mùi người đó, tôi đã đếm lui từng cột mốc cây số để được đứng trước cửa phòng anh. Chỉ việc nghĩ tới cảnh tống hết vali trong thang máy nhỏ xíu bốn người chui không lọt, mở cửa căn hộ rồi lao vào giường ôm anh ngủ là bao nhiêu mệt mỏi về “mo” hết.

Năm nay, tôi lại được dịp té vào tình yêu với một căn hộ khác. Nó rộng đến mức làm tôi bối rối khi không biết phải tìm đâu ra cho đủ áp-phích mà lấp đầy tường trống, dễ liên tưởng hơn là nó rộng đủ khiến tôi cô độc những khi ở nhà một mình. Có những tuần liền của kỳ nghỉ mà tôi chỉ ra đường đúng ba lần để đổ rác, nhận bưu phẩm bưu điện và đi siêu thị. Ngày vẫn lên ngoài khung cửa kính phòng khách trong mùi chanh nồng của nước chùi nhà và đêm vẫn xuống bên tiếng laptop kêu than vì làm việc quá sức. Đến khi những người bạn chia nhà đã trở về thì cuộc sống của tôi dường như mới thoát ra khỏi những luẩn quẩn ấy.

Một trong hai bạn chia nhà của tôi năm nay là người lao vào rửa chén khi thấy tôi xách máy ra hút bụi, hay gắng nhịn không hút thuốc trong xe chỉ vì biết tôi đã “lỡ” xứt nước hoa trước khi ra ngoài (dù tôi là người đi quá giang xe anh ta). Đó là chàng trai sẽ “dong dỏng” trước đó là sẽ không đón bọn tôi nhưng đến khuya trời lạnh âm độ, chỉ cần một cuộc gọi năn nỉ thì thể nào anh chàng cũng tung chăn đi đón. Nói tóm lại, anh chàng này lạnh lẽo đúng tác phong một kẻ được thừa hưởng chủ nghĩa cá nhân của phương Tây nhưng lại hào hiệp, “ga-lăng từ trong máu” với cô bạn chia nhà “lúc nào cũng sặc mùi nước mắm”…

1011242_605295509510681_1397958222_n

Sau những kí ức nhà chung nhà riêng, tôi thấm được một điều mà báo chí vẫn nhai đi nhai lại rằng: nhà là nơi trái tim thuộc về. Chính điều khiến trái tim tôi luôn xao động không phải ô cửa sổ ngập mùi rượu tequila, cũng chẳng phải chiếc giường ấm áp sau chuỗi giờ đồng hồ ngồi xe bus đường dài, mà đơn giản là vì nơi đó có hơi ấm của (những) người tôi thương.

TRANG AMI